Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức. Hiển thị tất cả bài đăng

14 thg 3, 2013

Tổng quan về Viêm tuỵ cấp và mãn tính

Chia sẻ bài viết này:

Viêm tuyến tuỵ là một bệnh lý rất thường gặp. Tuyến tuỵ tuy nhỏ so với trọng lượng cơ thể nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiêu hoá thức ăn và chuyển hoá chất đường glucose. Viêm tuỵ gây ra những ảnh hưỏng lớn đến sinh hoạt hàng ngày và chức năng chuyển hoá, tiêu hoá của cơ thể

Tuỵ là một tuyến lớn nằm sau dạ dày và gần tá tràng. Tá tràng là phần trên của ruột non. Tuỵ tiết ra các men tiêu hoá đổ vào tá tràng qua ống tuỵ. Các men này giúp tiêu hoá chất mỡ, các protein, và chất đường bột trong thức ăn hàng ngày. Tuỵ còn tiết ra insulin và glucagon vào máu. Các hormon này giúp cơ thể sử dụng đường glucose từ thức ăn để làm năng lượng hoạt động.

Bình thường các men tiêu hoá không hoạt động cho tới khi chúng đến ruột non, nơi chúng bắt đầu tiêu hoá thức ăn. Nhưng nếu các men này bị kích hoạt khi còn ở trong tuyến tuỵ, chúng sẽ bắt đầu tiêu hoá ngay bản thân tuyến tuỵ.
Có 2 thể viêm tụy: viêm tuỵ cấp và viêm tuỵ mãn
- Viêm tụy cấp xảy ra đột ngột, giảm bớt sau một thời gian ngắn và thường hồi phục.
- Viêm tuỵ mãn không tự khỏi, kết quả là tuyến tuỵ bị tiêu huỷ từ từ.
Cả hai thể viêm tuỵ đều có thể gây những biến chứng nặng. Trong những trường hợp nặng, có thể xảy ra xuất huyết, tổn thương mô học và nhiễm trùng. Nang giả tuỵ có thể hình thành do kết tụ của các dịch và mô hoại tử. Các men tiêu hoá của tuỵ và độc tố khi vào máu sẽ gây tổn thương tim, phổi, thận hoặc các cơ quan khác..

Hình ảnh tuyến tuỵ (pancreas), ống tuỵ (pancreatic duct) và các cơ quan kề cận: Tá tràng (duodenum), túi mật (gallbladder), ống mật chủ (common bile duct), gan (liver).
I. VIÊM TUY CẤP
1. Nguyên nhân viêm tuỵ cấp?
Một số bệnh nhân có thể bị một hoặc nhiều đợt viêm tuỵ cấp sau đó phục hồi hoàn toàn, nhưng đôi khi viêm tuỵ cấp có thể trở nặng đe doạ tính mạng và gây nhiều biến chứng. Trong số hàng trăm ngàn trường hợp xảy ra mỗi năm ở Mỹ khoảng 20 % là những trường hợp nặng. Viêm tuỵ cấp thường xảy ra ở đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Viêm tuỵ cấp thường do sỏi mật, hoặc uống quá nhiều rượu nhưng đấy không phải là những nguyên nhân duy nhất. Các nguyên nhân khác gây viêm tuỵ cũng cần được xem xét kỹ để có điều trị thích hợp. .

Sỏi kênh mật tuỵ gây viêm tuỵ cấp

Sỏi mật
2. Các triệu chứng của viêm tuỵ cấp?
Viêm tuỵ cấp thường khởi đầu bằng đau ở vùng thượng vị, có thể bớt sau vài ngày. Đau bụng nhiều và liên tục, hoặc lan ra sau lưng và những vị trí khác. Đau có thể xảy ra đột ngột và dữ dội, hoặc đau nhẹ lúc khởi đầu sau đó tăng dần sau khi ăn. Một số bệnh nhân viêm tuỵ cấp cảm thấy cơ thể rất mệt mỏi. Các triệu chứng khác bao gồm: bụng sưng và đau tức; buồn nôn; nôn; sốt; mạch nhanh. Trong các trường hợp nặng, có thể bị mất nước và tụt huyết áp . Suy tim, suy hô hấp và suy thận có khả năng xảy ra. Nếu có xuất huyết ở tuỵ, sốc, sẽ dẫn đến nguy cơ tử vong cao.
3. Chẩn đoán viêm tuỵ cấp?
Ngoài việc hỏi tiền sử bệnh và thăm khám lâm sàng, bác sĩ còn chỉ định xét nghiệm máu để chẩn đoán viêm tuỵ cấp. Trong các đợt viêm cấp, trị số amylase và lipase trong máu tăng ít nhất gấp 3 lần so với bình thường. Amylase và lipase là các men tiêu hoá hình thành trong tuyến tuỵ. Các thay đổi về lượng glucose, calcium, magnesium, sodium, potassium, và bicarbonate trong máu có thể xảy ra. Sau khi có cải thiện ở tuyến tuỵ, các trị số này thường trở về bình thường.
Bác sĩ có thể chỉ định làm siêu âm bụng để tìm sỏi mật và chụp cắt lớp CAT scan (computerized axial tomography scan) để đánh giá tình trạng viêm và hoại tử ở tuyến tuỵ. CAT scan còn giúp phát hiện nang giả tuỵ.

Hình ảnh viêm tuỵ cấp trên siêu âm

Hình ảnh nang giả tuỵ trên CAT-scan

4. Điều trị viêm tuỵ cấp ra sao?
- Điều trị tuỳ thuộc độ trầm trọng của bệnh. Nếu không có biến chứng ở thận hoặc phổi, viêm tuỵ cấp thường tự cải thiện. Điều trị thường nhằm mục đích hỗ trợ các chức năng quan trọng của cơ thể và phòng ngừa biến chứng. Cần nằm viện để truyền dịch thay thế bằng đường tĩnh mạch.
- Nang giả tuỵ khá lớn có thể ảnh hưởng đến sự phục hồi của tuyến tuỵ. Bác sĩ có thể chọc dò để hút dịch hoặc phẫu thuật cắt nang. Trừ khi ống tuỵ hoặc ống mật chủ bị tắc do sỏi, đợt viêm tuỵ cấp thường chỉ kéo dài vài ngày. Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân cần được nuôi bằng đường tĩnh mạch từ 3 đến 6 tuần cho đến khi tuyến tuỵ bình phục dần. Biện pháp này gọi là nuôi ăn hoàn toàn bằng đường tiêm truyền. Tuy nhiên trong những trường hợp nhẹ, nuôi ăn hoàn toàn bằng đường tiêm truyền thường không cần thiết. .
- Trước khi xuất viện, bệnh nhân sẽ được khuyên bỏ rượu và không nên ăn những bữa ăn thịnh soạn. Khi các dấu hiệu viêm tuỵ cấp đã hết, bác sĩ sẽ cố gắng tìm nguyên nhân chính xác của đợt viêm tuỵ lần này để đề phòng những đợt kế tiếp. Một số trường hợp có nguyên nhân thật rõ ràng, nhưng đối với một số khác, để tìm chính xác nguyên nhân cần phải làm thêm nhiều xét nghiệm phức tạp.
5. Biến chứng
- Viêm tuỵ cấp có thể gây nên những biến chứng về hô hấp. Nhiều bệnh nhân bị thiếu oxy máu, do đó mô và các tế bào cũng sẽ thiếu oxy. Điều trị thiếu oxy máu bằng cách cho thở oxy qua mặt nạ. Dù đã được cung cấp đủ lượng oxygen, một số ệịnh nhân vẫn bị suy hô hấp và cần được thở máy.
- Nếu nôn ói nhiều, bệnh nhân cần được đặt ống thông dạ dày. Những trường hợp nhẹ, bệnh nhân phải kiêng ăn trong 3-4 ngày và sẽ được truyền dịch và tiêm giảm đau qua đường tĩnh mạch.
- Nếu nhiễm trùng, bác sĩ sẽ sử dụng thêm kháng sinh. Phẫu thuật là cần thiết nếu có nhiễm trùng nặng. Phẫu thuật giúp phát hiện chỗ xuất huyết, chẩn đoán loại trừ với những nguyên nhân khác có triệu chứng giống viêm tuỵ cấp, hoặc để cắt lọc mô tuỵ bị hoại tử nặng.
- Viêm tuỵ cấp đôi khi gây biến chứng suy thận cấp. Khi suy thận cấp, cần chạy thận nhân tạo để lọc các chất cặn bã trong máu.

Viêm Tụy hoại tử
6. Liên quan giữa sỏi mật và viêm tuỵ?
Sỏi mật có thể gây viêm tuỵ cấp và cần phẫu thuật để lấy sỏi. Siêu âm hoặc CAT scan có thể phát hiện sỏi mật và đánh giá về mức độ tổn thương ở tuyến tuỵ. Tuỳ theo độ trầm trọng của viêm tuỵ mà có kế hoạch phẫu thuật. Nếu viêm tuỵ nhẹ, có thể phẫu thuật sỏi túi mật trong vòng một tuần. Trường hợp viêm tuỵ do sỏi kẹt ở kênh chung mật tuỵ hoặc ống mật chủ sẽ được giải quyết bằng phương pháp nội soi chụp mật tuỵ ngược dòng ERCP. Sau khi cắt túi mật nội soi và lấy sỏi ống mật chủ, giải quyết tình trạng viêm nhiễm, tuyến tuỵ thường phục hồi lại trạng thái bình thường.

Sỏi kẹt đoạn cuối ống mật chủ gây viêm tuỵ
II. VIÊM TỤY MÃN LÀ GÌ?
Nếu tiếp tục có tổn thương tuyến tuỵ, sẽ hình thành viêm tuỵ mãn. Viêm tuỵ mãn xảy ra khi các men tiêu hoá tấn công, phá huỷ tuyến tuỵ và các mô lân cận, gây đau và hình thành mô sẹo. Viêm tuỵ mãn thường xảy ra khi uống rượu nhiều trong nhiều năm, nhưng thể viêm mãn tính cũng có thể khởi phát chỉ sau một đợt cấp duy nhất, đặc biệt khi các ống tuỵ bị tổn thương. Ống tuỵ tổn thương gây viêm tuỵ, mô tuỵ bị phá huỷ và thay thế bằng mô sẹo.
1. Nguyên nhân gây viêm tụy mãn
Nghiện rượu thường gặp nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất của viêm tuỵ mãn. Các nguyên nhân chính của viêm tuỵ mãn là:
- Nghiện rượu
- Tắc nghẽn hoặc hẹp ống tuỵ do chấn thương hoặc do hình thành nang giả tuỵ
- Nguyên nhân di truyền không xác định (vô căn)
Tổn thương do nghiện rượu có thể không biểu hiện trong nhiều năm, và sau đó xuất hiện đôt ngột bằng một đợt viêm tuỵ cấp. Nghiện rượu là nguyên nhân viêm tuỵ mãn ở 70% người trưởng thành. Thể viêm tuỵ này thường ở nam nhiều hơn nữ và thường xảy ra ở lứa tuổi 30 đến 40.
Viêm tuỵ di truyền thường khởi phát ở trẻ em nhưng có thể không được phát hiện trong thời gian nhiều năm. Viêm tuỵ di truyền thường có những đợt tái phát . Mỗi đợt kéo dài từ 2 ngày đến 2 tuần. Yếu tố chẩn đoán viêm tuỵ di truyền là có hai hoặc nhiều thành viên cùng một thế hệ trong gia đình bị viêm tuỵ. Điều trị đợt cấp thường tương tự như đối với viêm tuỵ cấp. Các cơn đau và những vấn đề về dinh dưỡng cũng được xử trí giống viêm tuỵ cấp. Phẫu thuật đôi khi giúp giảm đau và xử lý các biến chứng.
Các nguyên nhân khác của viêm tuỵ mãn là:
- Tình trạng di truyền như trường hợp tuỵ chia đôi ( pancreas divisum)
- Xơ nang phổi (cystic fibrosis)
- Tăng calcium trong máu (hypercalcemia)
- Tăng mỡ máu (hyperlipidemia hoặc hypertriglyceridemia)
- Một số thuốc
- Một số bệnh tự miễn
2. Triệu chứng của viêm tuỵ mãn?
Đa số bệnh nhân viêm tuỵ mãn có đau bụng, mặc dầu một số không có triệu chứng đau. Đau nặng hơn sau khi ăn uống, lan ra sau lưng hoặc đau liên tục khiến bệnh nhân không thể sinh hoạt bình thường. Ở một số trường hợp, đau giảm dần theo diễn tiến của bệnh, có thể do tuỵ không còn sản xuất được men tiêu hoá nữa. Các triệu chứng khác bao gồm buồn nôn, nôn ói, sụt cân và tiêu phân mỡ.
Bệnh nhân viêm tuỵ mãn thường sụt cân, ngay cả khi ăn vẫn ngon miệng và chế độ ăn vẫn bình thường. Sụt cân xảy ra do cơ thể không tiết đủ men tuỵ để tiêu hoá thức ăn, do đó chất dinh dưỡng không được hấp thu đầy đủ. Tiêu hoá kém dẫn đến bài tiết chất mỡ, chất protein, và chất đường trong phân. Nếu những tế bào sản xuất insulin của tuỵ cũng bị tổn thương, đái tháo đường sẽ hình thành ở giai đoạn này.
3. Chẩn đoán viêm tuỵ mãn ?
Chẩn đoán có thể khó, nhưng các kỹ thuật mới sẽ hỗ trợ. Đó là các xét nghiệm tìm hiểu về chức năng tuỵ. Dùng kỹ thuật siêu âm, nội soi chụp mật tuỵ ngược dòng (ERCP), và CAT scan, bác sĩ có thể thấy được những dấu hiệu của viêm tuỵ mãn. Các dấu hiệu đó là vôi hoá tuỵ, mô tuyến tuỵ xơ cứng do kết tủa các muối calcium không hoà tan. Khi bệnh tiến triển xa, đái tháo đường và kém hấp thu sẽ xảy ra, lúc đó bác sĩ sẽ xét nghiệm máu, nước tiểu, phân để chẩn đoán viêm tuỵ mãn và theo dõi diễn biến của nó.
4. Điều trị viêm tuỵ mãn ra sao?
- Giảm đau là bước đầu tiên trong điều trị viêm tuỵ mãn. Bước kế tiếp là thiết lập một chế độ ăn giàu đường bột và ít chất béo.
- Có thể chỉ định dùng men tuỵ nếu tuỵ không còn đáp ứng đủ. Men cần uống theo mỗi bữa ăn để giúp cơ thể tiêu hoá thức ăn và phục hồi lại cân nặng. Đôi khi cần dùng insulin và một số thuốc khác đề kiểm soát đường huyết.
- Một số trường hợp cần điều trị phẫu thuật để giảm đau. Phẫu thuật được dùng để dẫn lưu ống tuỵ dãn to do tắc nghẽn hoặc cắt bỏ một phẩn tuỵ bị hoại tử.
- Đối với những trường hợp cơn xảy ra thưa và nhẹ hơn, bịnh nhân cần bỏ rượu, tuân thủ chặt chẽ chế độ ăn, và uống thuốc đầy đủ.
III. Viêm tuỵ ở trẻ em
Viêm tuỵ mãn ít khi xảy ra ở trẻ em. Chấn thương tuỵ và viêm tuỵ di truyền là hai nguyên nhân chính. Trẻ bị xơ nang, một bịnh lý phổi tiến triển từ từ, gây tàn phế và không thể chữa trị được, có thể đồng thời bị viêm tuỵ. Trong đa số trường hợp viêm tuỵ ở trẻ em thường không tìm thấy nguyên nhân..

** TÓM TẮT VỀ VIÊM TUỴ
Viêm tuỵ khởi phát khi các men tiêu hoá hoạt động ngay trong tuyến tuỵ và bắt đầu “tiêu hoá “ tụy.
- Viêm tuỵ có 2 thể: cấp tính và mãn tính
- Các nguyên nhân thường gặp của viêm tuỵ cấp là sỏi mật và lạm dụng rượu
- Đôi khi không tìm thấy nguyên nhân của viêm tuỵ.
- Các triệu chứng của viêm tuỵ cấp bao gồm đau bụng, buồn nôn, nôn, sốt và mạch nhanh.
- Điều trị viêm tuỵ cấp bao gồm dịch truyền tĩnh mạch, oxygen, kháng sinh, hoặc phẫu thuật.
- Viêm tuỵ cấp trở thành mãn khi mô tuỵ bị phá huỷ và thay thế bằng mô sẹo.
- Điều trị viêm tuỵ mãn bao gồm thuốc giảm đau; chế độ ăn nhiều đường bột, ít chất béo; uống bổ sung thêm men tiêu hoá. Một số trường hợp cần điều trị phẫu thuật.

(The National Institutes of Health (NIH)-2008)

Chuyên mục: , , , ,

11 thg 3, 2013

U xơ tử cung

Chia sẻ bài viết này:

U xơ tử cung là u cơ trơn, một loại u lành tính thường thấy nhất ở tử cung, chiếm tỉ lệ khoảng 20% phụ nữ trên 35 tuổi. Sau mãn kinh rất hiếm gặp u xơ tử cung, những u xơ tử cung có từ trước có thể teo đi. Nếu sau mãn kinh mà khối u to lên thì phải nghĩ đến khả năng khối u bị ung thư hóa.

U xơ là loại u nhạy cảm với nồng độ estrogen. Khi nồng độ estrogen tăng cao thì u xơ tử cung thường to ra.

Tùy theo vị trí của khối u trên thân tử cung mà có các vị trí sau: u dưới thanh mạc nằm ngay dưới lớp thanh mạc tử cung ở mặt ngoài tử cung; u trong cơ: nằm trong lớp cơ tử cung; u dưới niêm mạc: nhô vào trong lớp nội mạc tử cung.

U xơ tử cung có thể tiến triển theo nhiều dạng khác nhau: kích thước của u xơ tử cung có thể thay đổi; thoái hóa kính; thoái hóa nang; hóa vôi; nhiễm khuẩn nung mủ; hoại sinh vô khuẩn; thoái hóa mỡ; ung thư hóa.

U xơ tử cung 1

Hình ảnh u xơ tử cung

Các triệu chứng thường gặp

Triệu chứng thường gặp nhất là thống kinh, xuất huyết tử cung bất thường và cảm giác đè ép.

Những u xơ lớn đè ép vào vùng chậu gây tiểu rắt, táo bón, rối loạn tiêu hóa.

Những u ở dưới niêm mạc thường gây rong kinh, rong huyết nhiều. U xơ trong cơ cũng gặp xuất huyết bất thường. Tất cả các u xơ đều có thể gây đau hoặc trong thời kỳ hành kinh hoặc khi u xơ thoái hóa.

Biến chứng của u xơ tử cung

Chảy máu: là biến chứng thường gặp của u xơ tử cung, những bệnh nhân bị u xơ ở vị trí dưới niêm mạc thường hay bị rong kinh, rong huyết, lượng máu ra nhiều (băng kinh). Sự ra huyết kéo dài sẽ khiến cho bệnh nhân bị thiếu máu, biểu hiện là da xanh, niêm mạc nhợt, chóng mặt, đau đầu.

Đau bụng: do khối nhân xơ phát triển to gây chèn ép các tạng xung quanh gây đau.

U xơ tử cung có thể chèn ép vào niệu quản dẫn đến ứ đọng đài bể thận gây viêm nhiễm đường tiết niệu làm cho bệnh nhân có biểu hiện đái rắt, đái buốt, thậm chí có thể gây sỏi thận.

U xơ nằm ở mặt sau tử cung có thể chèn ép vào trực tràng gây táo bón cho bệnh nhân.

Đối với các nhân xơ nằm ở dưới phúc mạc có cuống có thể gây xoắn khối u làm cho bệnh nhân đau dữ dội vùng hố chậu, thể trạng suy sụp, mạch nhanh, bụng chướng, bệnh nhân dễ bị choáng do đau.

Một số khối u xơ biến chứng thoái hóa hoại tử vô khuẩn hoặc thoái hóa kính.

Đối với thai nghén: Do u xơ có thể làm biến dạng hình thái của tử cung làm cho vòi trứng có thể tắc hoặc bán tắc khiến bệnh nhân chậm có thai hoặc vô sinh.

Khi có thai u xơ tử cung có thể gây sẩy thai hoặc đẻ non, đặc biệt là các nhân xơ nằm ở vị trí dưới niêm mạc.

U xơ tử cung có thể làm cho ngôi thai ở vị trí không thuận lợi, gây rau tiền đạo hoặc rau bám chặt hoặc là u tiền đạo khi chuyển dạ.

Khi chuyển dạ: do khối nhân xơ mà cơn co bị rối loạn gây chuyển dạ kéo dài. Thời kỳ xổ rau thường gây băng huyết vì đờ tử cung.

Đối với những u xơ nằm ở vị trí cản trở của ống đẻ làm cho bệnh nhân không đẻ thường được phải mổ lấy thai.

Thời kỳ hậu sản: do khối u cản trở có thể gây bế sản dịch, nhiễm khuẩn hậu sản.

Điều trị

Tùy vào tuổi bệnh nhân, số lần có thai, tình trạng mong muốn có thai trong tương lai, vị trí hình thái khối u mà có những hình thức điều trị khác nhau.

Điều trị nội khoa

Thường những u nhỏ không gây rối loạn kinh nguyệt, không gây đau bụng thì khi mãn kinh u kích thước thường nhỏ lại nên không cần phải mổ mà chỉ cần điều trị nội khoa. Mục đích chủ yếu của điều trị nội khoa nhằm hạn chế sự phát triển của khối u và của triệu chứng rong kinh, rong huyết.

Có thể dùng các loại thuốc sau: progesterone, chất đồng vận GnRH hoặc danazol. Tác dụng của thuốc đạt được tối đa sau 3 – 6 tháng dùng thuốc. Khối u có thể giảm đến 50% thể tích. Nếu ngừng thuốc thì khối u dễ tăng kích thước trở lại.

Điều trị phẫu thuật

Chỉ định phẫu thuật đối với các trường hợp sau: Tất cả các trường hợp u xơ tử cung có biến chứng mà điều trị nội khoa không kết quả; U xơ tử cung phối hợp với tổn thương khác như sa sinh dục, u nang buồng trứng, loạn sản cổ tử cung; U xơ tử cung to trên 8cm.

Điều trị bảo tồn

Áp dụng đối với người còn mong muốn giữ tử cung để sinh nở…

Gây tắc mạch: thông qua catheter qua động mạch đùi, đưa lên động mạch tử cung và bơm chất gây tắc mạch để hạn chế phát triển của khối u. Khi thuyên tắc, nguồn cung cấp máu không còn, sẽ giúp cải thiện các triệu chứng do u xơ.

Bóc nhân xơ tử cung thông qua mổ mở hoặc mổ nội soi.

Cắt polip buồng tử cung thông qua soi buồng tử cung hoặc mổ mở.

Điều trị triệt để

Cắt tử cung hoàn toàn hay cắt bán phần tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể và tuổi người bệnh thông qua mổ nội soi và mổ mở.

Để phòng ngừa bệnh u xơ tử cung nên khám phụ khoa định kỳ để phát hiện sớm.

ThS. BSCKII. Lê Thế Vũ

Chuyên mục: , ,

10 thg 3, 2013

Râu ngô lợi mật, hạ huyết áp

Chia sẻ bài viết này:

Cây ngô tên khoa học là loại cây được trồng phổ biến ở nước ta từ vùng núi đến đồng bằng. Trong Đông y, râu ngô (ngọc mễ tu) là vị thuốc được sử dụng nhiều.

Râu ngô vị ngọt, tính bình; vào can thận. Có tác dụng lợi thủy tiết nhiệt, bình can lợi đởm. Dùng cho các trường hợp vàng da phù nề, tác dụng lợi mật, hạ huyết áp, hạ đường huyết, cầm máu và lợi tiểu. Có thể dùng 30 - 60g dạng khô, 100 - 200g dạng tươi hằng ngày.

Cách dùng râu ngô làm thuốc

Chữa viêm thận, viêm bàng quang: râu ngô tươi 100g, rau má 50g, ý dĩ 50g, mã đề thảo 50g, sài đất 40g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa phù thũng, viêm thận cấp, đái đỏ, viêm gan tắc mật, đái vàng, vàng da: râu ngô 40g tươi (hoặc ruột cây ngô 150g). Sắc uống trong ngày.

Chữa tăng huyết áp: nước luộc bắp ngô tươi. Ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 200ml; uống liền 2 - 3 tháng đến khi huyết áp bình thường và ổn định.

Món ăn - bài thuốc có râu ngô

Thịt lợn hầm râu ngô: thịt lợn nạc 100 - 200g, râu ngô tươi 100 - 200g (hoặc 50g khô). Hầm nhừ, thêm gia vị ăn. Dùng cho bệnh nhân đái tháo đường.

Râu ngô, tiểu kế, tinh hoàn gà: cả ba thứ liều lượng thích hợp, nấu kỹ, thêm gia vị ăn. Dùng cho các trường hợp lao phổi khái huyết.

Râu ngô hầm ong non: râu ngô tươi 100 - 200g (hoặc 50g khô), ong non 120g. Thêm nước nấu kỹ, thêm gia vị, cách ngày làm 1 lần. Dùng cho các bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường, viêm thận, viêm gan, viêm túi mật.

Nước chè râu ngô: Có nhiều hình thức: nước luộc ngô tươi, nước râu ngô hãm đặc uống khi nóng, nước râu ngô pha đường để lạnh chia uống nhiều lần trong ngày, uống hàng ngày thay nước trà. Thường dùng cho bệnh nhân viêm thận, viêm đường tiết niệu, viêm gan vàng da.

Cháo đậu đen, đại táo, cà rốt, râu ngô: râu ngô 60g, đậu đen 30g, đại táo 30g, cà rốt 90g. Râu ngô sắc hãm lấy nước; đem nước râu ngô nấu với đậu đen, đại táo, cà rốt. Nấu chín nhừ, thêm chút gia vị cho ăn. Dùng cho bệnh nhân viêm gan vàng da.

TS. Nguyễn Đức Quang

Chuyên mục: , , , ,

9 thg 3, 2013

Men (enzyme) ơi, men đâu rồi!

Chia sẻ bài viết này:

Men là các hợp chất protein vốn rất cần thiết cho cơ thể nhằm giúp cơ thể thực hiện các quá trình tiêu hóa, chuyển hóa, sử dụng năng lượng và một loạt những chức năng khác.

Sự thiếu hụt enzyme thường xảy ra khi chúng ta bước vào tuổi “xế chiều” và gây ra hàng loạt những triệu chứng “dở khóc, dở cười” mà “đau khổ” nhất là các triệu chứng mệt mỏi.

Có bao nhiêu loại enzyme?

Enzyme là những chất xúc tác cho những phản ứng sinh hóa diễn ra trong cơ thể. Có nghĩa là enzyme sẽ giúp cơ thể phá vỡ, xây dựng và tái thiết một loạt các hợp chất hóa học trong cơ thể. Những loại enzyme chính mà cơ thể chúng ta tạo ra bao gồm các loại enzyme tiêu hóa và những enzyme cần cho sự chuyển hóa. Các loại enzyme tiêu hóa hiện diện trong bộ máy tiêu hóa nhằm giúp cơ thể tiêu hóa thực phẩm. Trong khi đó thì các loại enzyme chuyển hóa sẽ giúp cơ thể tổng hợp năng lượng và sử dụng năng lượng. Những năng lượng này rất quan trọng cho cơ thể vì chúng sẽ giúp chúng ta suy nghĩ, hít thở, chuyển động... Trong cơ thể, enzyme được tạo ra từ một số dạng tế bào và sự tạo ra enzyme cũng đòi hỏi một số năng lượng.

Men ơi, men đâu rồi! 1

Thực phẩm nướng, chiên ở nhiệt độ cao hoặc luộc quá chín sẽ làm lượng enzyme bị thất thoát

Khi enzyme bị thiếu hụt

Sự thiếu hụt các loại enzyme tiêu hóa sẽ làm giảm hoặc vô hiệu hóa sự phân giải thực phẩm thành những loại đường đơn, các amino acid và các acid béo vốn có nhiệm vụ tạo năng lượng cho cơ thể và giúp chúng ta có một cảm giác tràn trề sức sống. Những loại thực phẩm ăn sống như: trái cây, rau cải có chứa sẵn enzyme của riêng chúng. Khi vào cơ thể, các loại enzyme này chỉ cần được “kích hoạt” bằng cao loại enzyme tiêu hóa của cơ thể ít hơn đồng thời giúp cơ thể tiết kiệm được năng lượng. Các nhà khoa học Hà Lan đã công bố một bản nghiên cứu được xuất bản trong chuyên san “Medical Hypotheses” năm 2000. Theo đó, sự thiếu hụt enzyme sẽ gây ra các triệu chứng mệt mỏi kinh niên và đề nghị rằng những bệnh nhân bị mắc chứng mệt mỏi kinh niên cần phải được xét nghiệm, chẩn đoán xem họ có bị thiếu hụt enzyme hay không.

Ngoài sự mệt mỏi kinh niên, sự thiếu hụt enzyme còn dẫn đến những hệ lụy khác cho sức khỏe chẳng hạn như: trào ngược dạ dày thực quản, khó tiêu, đầy hơi, táo bón, nhức đầu, các rối loạn về ruột, xơ vữa động mạch, cao cholesterol, yếu cơ và nguy hiểm nhất là sự suy giảm chức năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể.

Vì sao enzyme... không cánh mà bay?

Có rất nhiều nguyên nhân gây thiếu hụt enzyme, nguyên nhân hàng đầu là do sự lão hóa. Theo các nhà nghiên cứu y học thì sự sản xuất enzyme sẽ suy giảm mỗi năm 1%. Sự sản xuất enzyme đòi hỏi cơ thể phải tiêu hao năng lượng và lượng enzyme được sản xuất cũng phụ thuộc vào giá trị pH trong cơ thể. Khi lớn tuổi, sự cân bằng acid - kiềm trong cơ thể cũng trở nên “xa vời”. Vì vậy mà lượng enzyme được sản xuất ra cũng suy giảm đáng kể.

Trong cuộc sống công nghiệp hiện đại của thời nay, thực phẩm mà chúng ta đưa vào cơ thể đã mất đi một số enzyme quý giá. Thực phẩm nướng, chiên ở nhiệt độ cao hoặc luộc quá chín sẽ làm lượng emzyme bị thất thoát, thực phẩm nấu nướng trong lò vi sóng (microwave) cũng sẽ làm “hao gầy” enzyme tự nhiên. Những yếu tố khác làm suy giảm enzyme trong cơ thể bao gồm cuộc sống căng thẳng, rượu bia, khói thuốc, môi trường độc hại...

Vì vậy, để bảo đảm enzyme không bị “rút ruột”, ngoài việc chú trọng việc ăn uống, không sử dụng rượu bia thái quá, đừng dây dưa với khói thuốc, tránh căng thẳng quá độ, rèn luyện thân thể thường xuyên. Chỉ cần một thay đổi nhỏ trong lối sống, bạn có thể “bảo tồn” lượng enzyme cần thiết cho cơ thể. Một thay đổi nhỏ, nhưng lợi ích vô biên.

DS. Nguyễn Bá Huy Cường

(ĐH Murdoch - Úc)

Chuyên mục: , ,

25 thg 2, 2013

Suy tĩnh mạch chi dưới và cách điều trị

Chia sẻ bài viết này:

Suy giãn tĩnh mạch chân không nguy hiểm đến tính mạng, chỉ gây khó chịu, đau đớn và mất thẩm mỹ, cản trở sinh hoạt. Tuy nhiên, biến chứng của bệnh này là sự hình thành các cục máu đông trong lòng tĩnh mạch, các cục máu này có thể gây tắc mạch máu tại chỗ hoặc di chuyển theo dòng máu và gây tắc mạch chỗ khác, trong đó nguy hiểm nhất là tắc mạch phổi, có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong.
Vì sao mắc bệnh?
Bệnh suy giãn tĩnh mạch chi chưa được xác định rõ ràng nguyên nhân. Tuy nhiên, một số yếu tố nguy cơ suy giãn tĩnh mạch chân gây ra do tổn thương chức năng các van một chiều của hệ tĩnh mạch ngoại biên đã được xác nhận như: quá trình thoái hóa do tuổi tác; do tư thế sinh hoạt hay làm việc phải đứng hay ngồi một chỗ lâu, ít vận động, phải mang vác nặng... tạo điều kiện cho máu bị dồn xuống hai chân, làm tăng áp lực trong các tĩnh mạch ở chân, lâu ngày sẽ gây tổn thương các van tĩnh mạch một chiều. Khi các van này bị suy yếu sẽ giảm khả năng ngăn chặn luồng máu chảy ngược xuống dưới do tác dụng của trọng lực, dẫn đến ứ máu ở hai chân; các yếu tố nguy cơ như: chế độ làm việc (phải đứng nhiều, làm việc trong môi trường ẩm thấp), béo phì, chế độ ăn ít chất xơ và vitamin...

Suy tĩnh mạch chi dưới và cách điều trị 1
 Hình ảnh giãn tĩnh mạch nổi trên da.

Dấu hiệu nhận biết

Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng của bệnh suy tĩnh mạch chi dưới thường mờ nhạt và thoáng qua, người bệnh có biểu hiện: đau chân, nặng chân, mỏi chân, phù nhẹ khi đứng lâu ngồi nhiều, vọp bẻ, chuột rút vào buổi tối, châm chích, dị cảm như kiến bò vùng cẳng chân về đêm. Những triệu chứng này thường không rõ ràng nên người bệnh ít chú ý và dễ bỏ qua.
Giai đoạn tiến triển bệnh sẽ gây phù chân, có thể phù ở mắt cá hay bàn chân, đôi khi người bệnh chỉ có cảm giác mang giày dép chật hơn bình thường. Vùng cẳng chân xuất hiện chàm da, thay đổi màu sắc da do máu ứ ở tĩnh mạch lâu ngày làm rối loạn biến dưỡng. Các tĩnh mạch trương phồng lên gây cảm giác nặng, đau nhức chân, máu thoát ra ngoài mạch gây phù chân, nặng hơn thì có thể thấy các búi tĩnh mạch trương phồng nổi rõ trên da, các mảng bầm máu trên da...
Các tĩnh mạch giãn to nếu không được điều trị, lấy bỏ sẽ có nguy cơ tạo lập cục máu đông, gây viêm tĩnh mạch nông huyết khối. Các cục máu đông tạo lập trong lòng mạch có thể bong ra, theo dòng máu trôi ngược lên phổi, làm tắc mạch phổi, nguy cơ tử vong cao. Các tĩnh mạch giãn to dần, đến một lúc nào đó sẽ bị vỡ khi chấn thương hay va chạm nhẹ, gây xuất huyết, bầm máu. Sự rối loạn biến dưỡng da ở cẳng chân lâu ngày sẽ dẫn đến chàm, tăng sắc tố da và loét chân do ứ đọng. Tình trạng loét chân do tĩnh mạch là một biến chứng rất khó điều trị.

Suy tĩnh mạch chi dưới và cách điều trị 2
 Tĩnh mạch bình thường và tĩnh mạch bị suy.

Có cách nào điều trị?

Có 3 biến chứng mà người mắc bệnh suy và giãn tĩnh mạch chân có thể gặp phải là huyết khối (máu đông), xuất huyết (chảy máu) và loét chân.
Việc điều trị bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới đòi hỏi sự kết hợp giữa dùng thuốc, phẫu thuật và vật lý trị liệu tại các trung tâm chuyên sâu về bệnh này.
Điều trị nội khoa với các thuốc làm bền thành mạch nhưng phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch. Một số thầy thuốc còn áp dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa lòng mạch máu.
Phẫu thuật bằng phương pháp Stripping lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn bằng một dụng cụ chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch và phương pháp Chivas lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên, đây là phương pháp điều trị khá triệt để, có tỷ lệ tái phát thấp. Phương pháp làm lạnh với nitơ lỏng -90oC để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua một ống thông trong lòng tĩnh mạch. Phương pháp này cho tỷ lệ tái phát khá cao. Ngoài ra, hiện nay người ta còn áp dụng phương pháp can thiệp nội mạch loại bỏ tĩnh mạch suy bằng tiêm chất tạo bọt; điều trị bằng laser.
Một phương pháp mới được Viện Tim mạch Quốc gia và Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM bắt đầu ứng dụng trong năm 2012 là loại bỏ tĩnh mạch suy bằng năng lượng sóng có tần số radio. Đây là một phương pháp có nhiều ưu điểm, hơn hẳn các phương pháp kinh điển, bởi phương pháp này có tỷ lệ thành công rất cao, điều trị triệt để được tĩnh mạch bị suy, an toàn và ít tai biến.
Cách phòng ngừa bệnh
Suy giãn tĩnh mạch là bệnh lý mang tính xã hội, liên quan nhiều đến chế độ ăn uống và làm việc. Vì vậy, khuyến cáo chung là nên tránh đứng lâu, ngồi nhiều, nhất là nhân viên văn phòng, không nên ngồi làm việc một chỗ liên tục trong suốt buổi làm việc, tranh thủ giải lao, đi lại vận động vài phút trong khoảng thời gian làm việc từ 30 - 60 phút. Trong lúc ngồi làm việc, có thể phối hợp các bài tập vận động chân như co duỗi các ngón chân, gập duỗi cổ chân, nhón gót... để máu lưu chuyển tốt hơn. Ăn nhiều rau quả, chất xơ, vitamin. Nên tập thể dục để giảm cân như: bơi lội, đi xe đạp, tập dưỡng sinh.
PGS.TS. Đinh Hương
Chuyên mục: , , ,

12 thg 1, 2013

BS HỒ HẢI: VÌ ĐÂU NÊN NỖI?

Chia sẻ bài viết này:
Tôi còn nhớ vào tháng 7/2009, khi cả thế giới nhộn nhạo và quay cuồng vì cúm gia súc (cúm lợn, H1N1: swine flu). Ngay cả WHO cũng lùm sùm vì nó, nào hết kêu gọi sự lo sợ đại dịch toàn cầu. Đến việc kêu gọi các nước ngoài việc kiểm tra ở các cửa khẩu và ngay cả kêu gọi các quốc gia trên thế giới cần dự trữ đủ liều vaccin cho cúm H1N1. Một số tờ báo trong nước cũng tác nước theo mưa còn bảo là cúm A H1N1 còn nguy hiểm hơn H5N1 (cúm gia cầm hay cúm gà: bird flu), trong khi đó không ai biết mức độ nguy hiểm của cúm A H1N1 còn không bằng cúm thông thường là cúm B mà vẫn thường hay mắc phải trong một bài viết của tôi về: Đại dịch cúm H1N1 hay là sự thổi phồng? Bài viết này đã có nhiều ý kiến của một số nhà chuyên môn ở hải ngoại bất đồng với tôi trên một vài diễn đàn khác rất sôi động. Và không hiếm người bảo tôi không biết gì, ở trong nước thì có kiến thức gì đâu mà bàn luận chuyện chuyên môn lớn.
Đành rằng nhờ vào sự cảnh báo tích cực của WHO và công tác ngăn chặn cúm H1N1 của toàn cầu đã có công không nhỏ trong việc giới hạn cúm H1N1 trỡ thành đại dịch. Nhưng qua thống kê của CDC trong bài viết tháng 7/2009 của tôi cũng thấy là mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe và giảm chất lượng làm việc của H1N1 đến với con người nhiều hơn là nó gây tử vong như những trận đại dịch cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX trong một bài viết rất hay của GSBS Nguyễn Chấn Hùng.
Khác với vi trùng - giống như người, vi trùng có thể tự ăn, sinh sản bằng bộ nhiễm sắc thể của nó nhân đôi - Virus không làm được việc ấy, mà nó làm việc chỉ huy DNA hoặc RNA của tế bào người để ăn uống và sinh sản cho nó. Nên tùy theo mỗi loài virus mà có một dòng tế bào đích để tấn công. Ngoài ra, virus luôn thay đổi bộ gene để chống lại mọi kẻ thù tiêu diệt nó. Nên việc ngăn ngừa và điều trị đối với bệnh lý do virus gây ra còn là một vấn đề mở cho toàn nhân loại. Nhưng không phải lúc nào cũng thổi phồng quá lớn một vấn đề không đến nỗi nguy hại để rồi một số quốc gia nghèo lại tốn tiền của mua vaccin để quá hạn sử dụng và thuốc; trong khi họ đang thiếu tiền để lo cho người nghèo.
Hôm nay trên trang RFI có bài Pháp tìm cách bán bớt vaccin ngừa cúm A tồn kho quá nhiều, đó cũng là hậu quả của một sự thổi phồng không biết vì lý do an toàn sức khỏe nhân loại hay vì lợi nhuận của các hãng thuốc trong thời đại suy thoái? Tồn đọng đến 94 triệu liều vaccin tương đượng với 869 triệu Euro, tính ra hơn 1 tỷ USD với thời giá hiện tại là con số trả giá cho một chính phủ Pháp già cỗi và thiếu năng động hơn 300 năm qua. Mặc dù, gần đây vị tổng thống có nguồn gốc nhập cư từ Hungary: Nicolas Sarkozy có vẻ năng động hơn để tìm lại hình hài một đế quốc bẩn kiệt ngày nào? Họ ra khuyến cáo phải chích 2 liều cho mỗi người khi cúm H1N1 đang trong cơn dịch. Nhưng bây giờ họ lại năn nỉ các nước khác với chỉ 1 liều thôi là đủ để bán tống, bán tháo số vaccin tồn đọng có nguy cơ quá hạn sử dụng!!!
Như một bài viết trước đây, y học triết học không chỉ dừng trong việc đào tạo mặt triết học cho người hành nghề y có một tư duy logic mọi vấn đề y học và đời sống vật chất lẫn tinh thần. Mà y học triết học còn bao trùm cả những lĩnh vực về môi trường học và dịch tễ học cộng đồng. Việc ngăn ngừa cúm lan rộng và chống dịch cúm là một mảng nhỏ trong y học nói chung và y học triết học nói riêng. Nhưng không nên vì quá sốt sắng để mất bình tĩnh, hay vì 1 lý do lợi nhuận cho 1 cá nhân quản lý ngành, mà dẫn đến những ảnh hưởng đến kinh tế cho các nước nghèo. Cũng như có sự tham gia của các hãng thuốc trong việc kiếm lợi nhuận vì lý do sợ đại dịch gây ra.
Đây cũng là một bài học mà ngành Y Việt Nam phải rút kinh nghiệm. Thời buổi bây giờ, vì lợi nhuận con người có thể làm những cú scandal bạc tỷ một cách chính danh, mà không ai có thể bắt bẻ được về mặt pháp lý. Ở thời đại kim tiền ngày nay, hơn thua nhau của quản lý là phải có tầm nhìn bằng một kiến thức đủ và đúng tầm, để tiên lượng việc tốt xấu nên làm. "Rùa không thể thắng thỏ trong cuộc đua lần thứ hai" (mượn câu này của nhà báo Cát Khuê - báo Thanh Niên).
Chuyên mục: ,

29 thg 12, 2012

Viêm não

Chia sẻ bài viết này:

Viêm não (encephalitis), một tình trạng viêm của nhu mô não, biểu hiện bằng sự rối loạn chức năng thần kinh-tâm thần khu trú hoặc lan tỏa. Trên phương diện dịch tễ học cũng như sinh lý bệnh, viêm não được phân biệt với viêm màng não thông qua khám xét lâm sàng và cận lâm sàng mặc dù hai thể bệnh này điều có những triệu chứng của tình trạng viêm màng não như sợ ánh sáng, nhức đầu hay cứng cổ. Viêm não hiểu theo nghĩa đen thì đó là “tình trạng viêm của não”, nghĩa là có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên thuật ngữ viêm não thường được hiểu là tình trạng viêm não gây nên do virus. Đây là một tình trạng bệnh lý nặng nề đe dọa tính mạng bệnh nhân.

Viêm não có thể biểu hiện dưới hai thể khác nhau: thể tiên phát và thể thứ phát. Viêm não tiên phát thường nặng nề hơn trong khi viêm não thứ phát thường gặp hơn. Tuy nhiên do thể thứ phát thường nhẹ nhàng hơn nên trong số các trường hợp nhập viện, viêm não tiên phát chiếm đa số.

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VIÊM NÃO:

Nguyên nhân của viêm não thường gặp nhất là nhiễm virus. Một số ví dụ điển hình là do herpes virus; do arbovirus lây truyền do muỗi, bét hoặc các côn trùng khác; bệnh dại gây nên do vết cắn của một số động vật nhiễm bệnh như chó, mèo.

Viêm não có hai thể phân theo phương thức virus sử dụng gây nhiễm trùng ở hệ thần kinh trung ương:

Viêm não tiên phát: Viêm não này xuất hiện khi virus trực tiếp tấn công não và tủy sống (tủy gai). Thể viêm não này có thể xuất hiện vào bất cứ thời gian nào trong năm (viêm não tản phát: sporadic encephalitis) hoặc có thể xuất hiện theo mùa đôi khi thành dịch (viêm não dịch tễ: epidemic encephalitis).

Viêm não thứ phát (viêm não sau nhiễm trùng (post-infectious encephalitis): Hình thức viêm não này xuất hiện khi virus gây bệnh ở một số cơ quan khác bên ngoài hệ thần kinh trung ương và sau đó mới ảnh hưởng đến hệ này.

Tương tự, các bệnh lý nhiễm khuẩn cũng đôi khi gây nên viêm não như bệnh Lyme hoặc một số nhiễm ký sinh trùng cũng có thể gây viêm não như trong trường hợp Toxoplasma (ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch) và thậm chí cả giun nữa.

Sau đây là một số nguyên nhân gây viêm não thường gặp:

Nguyên nhân do các Arbovirus

Virus này được lây truyền thông qua muỗi và bét là những động vật chân đốt (arthropod) nên có tên là arbovirus (Arthropod-borne virus).  Các virus này là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm não dịch tễ. Trong những năm gần đây, viêm não dịch tễ chiếm số lượng bệnh viêm não cao nhất trong các công trình nghiên cứu đã được công bố. Ở Việt nam, điển hình là viêm não Nhật bản thường xuất hiện vào mùa hè khi mà lượng muỗi trong môi trường sống đạt mật độ cao nhất trong năm.

Các sinh vật truyền bệnh từ một cơ thể vật chủ này sang một vật chủ khác được gọi làvector truyền bệnh. Muỗi là một vector truyền bệnh quan trọng, đặc biệt là tryền virus từ chim và các động vật gặm nhấm sang người. Một điều đáng lưu ý là khi muỗi chích các động vật máu nóng (trong đó có người) thì trước khi hút máu chúng phải bơm nước bọt có chứa chất chống đông máu vào để thuận lợi cho quá trình hút máu. Tuy nhiên nếu muỗi này đã có chứa virus gây bệnh thì virus cũng theo nước bọt bơm vào đó để đi vào hệ tuần hoàn động vật bị hút máu.

Các loài chim sống trong khu vực có nhiều nguồn nước đứng như các ao, hồ, đầm lầy thường dễ nhiễm virus gây viêm não. Khi chim nhiễm virus viêm não, lượng virus trong máu của chúng tồn tại ở mật độ rất cao trước khi chim lành bệnh và xuất hiện miễn dịch chống bệnh. Nếu muỗi hút máu chim trong giai đoạn này thì chúng sẽ trở thành vector mang bệnh suốt đời. Chính muỗi mang virus gây bệnh này khi hút máu một con chim lành khác thì sẽ truyền vurus cho chim này và rồi có thể chim này lại chuyển virus gây bệnh cho một con muỗi khác nữa. Chính nhờ quá trình này mà virus được lưu hành rộng rãi trong quần thể các loài chim.

Thông thường thì phương thức truyền virus trên đây không ảnh hưởng gì đến sức khỏe của cả muỗi và chim và cũng không gây nguy hiểm cho con người. Một phần là do muỗi thường chỉ thích hút máu các loài chim và các động vật có vú nhỏ. Người chỉ là một lựa chọn thứ hai. Tuy nhiên trong điều kiện môi trường thay đổi như thời tiết bất thường hay thay đổi khí hậu, lượng chim nhiễm bệnh và lượng muỗi tăng lên rất nhiều. Trong những rường hợp như thế, người sẽ đứng trước nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn.

Ở Việt nam, Viêm não Nhật bản B là một đe dọa sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là trẻ em vào mùa hè. Xin xem thêm bài chính Viêm não Nhật bản.

Một số các arbovirus gây viêm não được đề cập trong y văn gồm:

  • Viêm não ngựa miền Đông(Eastern equine encephalitis): Như tên bệnh cho biết, viêm não này xuất hiện chủ yếu ở ngựa, ít gặp ở người và thường gặp ở khu vực miền Đông Hoa Kỳ. Bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng thường nhất là vào mùa hè. Virus này thường hiện diện ở các laòi chim sống trong các đầm nước ngọt. Viêm não thường nặng nề và gây tử vong. Bệnh thường xảy ra 10 ngày sau khi bị muỗi đốt.
  • Viêm não ngựa miền Tây(Western equine encephalitis): Hầu hết các báo cáo về bệnh này xảy ra ở bình nguyên miền Tây Hoa Kỳ. Các loài chim sống trên các cánh đồng có hệ thống thủy lợi hoặc trên các trang tại thường nhiễm virus. Bệnh xảy ra chủ yếu ở ngựa, hiếm gặp ở người. Thường cao điểm vào tháng Sáu và tháng Bảy. Bệnh nhẹ hơn người chị em của nó ở miền Đông tuy nhiên trẻ nhỏ mắc bệnh sẽ biểu hiện nặng nề.
  • Viêm não St. Louis(St. Louis encephalitis): Bệnh này cùng từ chim lan sang muỗi. Người già mắc bệnh nặng hơn. Tỷ lệ tử vong khoảng từ 2 đến 20%.
  • Viêm não La Crosse(La Crosse encephalitis): La Crosse là nơi phát hiện viêm não này lần đầu tiên vào năm 1963. Bệnh thường gặp ở trẻ em.
  • Viêm não Tây sông Nile(West Nile encephalitis). Bệnh lưu hành ở châu Phi, Trung Đông, một phần châu Âu, Nga, Ấn độ và Indonesia. Bệnh phát hiện ở Hoa Kỳ lần đầu tiên vào năm 1999. Cũng giống như các arbovirus khác, virus gây viêm não Tây sông Nile có ổ chứa là chim và vector truyền bệnh là muỗi tuy nhiên trong một số hiếm trường hợp, bệnh lây truyền qua truyền máu hay ghép tạng  hay cho bú. Bệnh thường nhẹ nhưng cũng có thể trầm trọng nếu bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch.
Herpes virus

Một số virus thuộc họ này thường gây những bệnh lý thông thường thì cũng có thể gây viêm não:

  • Virus herpes simplex: Có hai type herpes simplex virus (HSV) là HSV type 1 và HSV type 2. HSV type 1 thường gây bệnh ở miệng tạo thành các vết loét rất đau hoặc các mụn rộp xung quanh miệng (dân gian hay gọi là chứng nhiệt). HSV type 2 thường gây bệnh ở cơ quan sinh dục. HSV-1 gây viêm não tản phát. Phụ nữ mang thai nhiễm HSV đường sinh dục có thể truyền virus cho con lúc sinh gây nên bệnh cảnh viêm não cực kỳ nặng nề với tỉ lệ tử vong rất cao.
  • Virus varicella-zoster: Virus này gây nên bệnh thủy đậu (bệnh xuất hiện trong nhiễm trùng tiên phát) và bệnh dời leo (do sự tái hoạt động của virus trong cơ thể). Virus này có thê gây nên viêm não và có thể đưa đến tử vong.
  • Virus Epstein-Barr: Virus này gây nên chứng tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng (infectious mononucleosis). Virus có thể gây viêm não và thường nhẹ tuy nhiên trong một số trường hợp có thể đưa đến tử vong.
Các bệnh nhiễm trùng thông thường ở trẻ em gây viêm não

Trong một số trường hợp hiếm gặp, viêm não thứ phát có thể xuất hiện sau khi trẻ mắc một số bệnh nhiễm trùng thường gặp, bao gồm:

  • Sởi
  • Quai bị
  • Sởi Đức

Trong những trường hợp này, viêm não có thể là do đáp ứng quá mẫn, một đáp ứng quá mức của hệ miễn dịch đối với các chất lạ. Tuy nhiên trong bệnh sởi, ngoài viêm não do quá mẫn (xuất hiện khá sớm sau sởi) thì còn biến chứng viêm não xơ hóa bán cấp tiến triển do virus cư trú trong tế bào thần kinh trung ương

Các enterovirus (virus ruột)

Các enterovirus cũng có thể gây nên viêm não nặng nề như enterovirus 71 ngoài biểu hiện nhẹ của nó là bệnh tay chân miệng.

Các yếu tố nguy cơ

Muỗi không phân biệt đối tượng khác nhau trong quần thể dân cư do vậy mọi người đều có thể mắc bệnh. Tuy nhiên có một số yếu tố gọi là yếu tố nguy cơ làm cho người đó có nhiều khả năng mắc bệnh hơn. Cũng nên nhớ là không phải tất cả mọi người nhiễm virus đều mắc bệnh.

  • Tuổi: Một số viêm não thường xuất hiện hơn và/hoặc nặng nề hơn ở trẻ em hoặc người già.
  • Suy giảm miễn dịch: Bệnh nhân suy giảm miễn dịch do bệnh hoặc do điều trị hoặc do ghép tạng có nguy cơ cao hơn.
  • Vùng địa lý: Vùng nhiệt đới thường có nguy cơ viêm não cao hơn, nhất là viêm não do các arbovirus.
  • Các hoạt động ngoài trời: Những người có hoạt động ngoài trời nhiều như làm vườn, chăn nuôi lợn, nghiên cứu chim, nghĩa là có nguy cơ tiếp xúc nhiều với muỗi sẽ dễ bị mắc bệnh hơn.
  • Mùa trong năm: Các tháng nóng ấm mùa hè là mùa sinh sản của chim và muỗi do đó các bệnh viêm não do arbovirus tăng cao hơn. Vào mùa đông xuân, viêm não do virus ruột có thể gặp nhiều hơn.

Sinh lý bệnh

Đường xâm nhập thay đổi tùy theo từng loại virus gây bệnh Có nhiều virus có thể lây truyền từ người sang người. Một số trường hợp viêm não lại do sự tái hoạt động của virus trong cơ thể như herpes simplex virus. Muỗi và các côn trùng truyền bệnh thông qua đường vào từ các vết đốt. Bệnh dại có đường vào từ các vết cắn của một số động vật. Với một số virus như varicella-zoster virus (VZV) và virus vùi hạt cự bào (cytomegalovirus:CMV) thì tình trạng suy giảm miễn dịch đóng một vai trò quan trọng trong sự phát sinh bệnh.

Thông thường thì virus nhân lên bên ngoài hệ thống thần kinh trung ương và đi vào hệ thống này hoặc bằng đường máu hoặc đi ngược theo các dây thần kinh (bệnh dại, herpes simplex virus và varicella-zoster virus) và đường khứu giác (herpes simplex virus). Nguyên nhân của các trường hợp viêm não chậm như viêm não xơ hóa bán cấp tiến triển (subacute sclerosing panencephalitis: SSPE) sau sởi, bệnh lý chất trắng đa ổ tiến triển (progressive multifocal leukoencephalopathy: PML) vẫn chưa được hiểu tường tận.

Một khi đã vượt qua được hàng rào máu-não, virus xâm nhập tế bào thần kinh gây nên rối loạn chức năng tế bào, xung huyết quanh mao mạch, xuất huyết, và đáp ứng viêm lan tỏa ảnh hưởng đến chất xám và chất trắng tuy nhiên chất xám bị ảnh hưởng nặng nề hơn. Bệnh lý não khu trú là hậu quả của tổn thương một vùng não nào đó do virus có ái tính cao với vùng này. Ví dụ herpes simplex virus thường ảnh hưởng đến thùy thái dương dưới và giữa.

Mặc dù các đặc điểm mô học là không đặc hiệu, sinh thiết não vẫn là tiêu chuẩn chính để chẩn đoán bệnh dại. Sự hiện diện của các thể Negri (Negri bodies) ở hồi hải mã (hippocampus) và tiểu não (cerebellum) là đấu hiệu chỉ điểm của bệnh. Trong viêm não do herpes simplex virus, các hạt vùi HSV Cowdry type A cùng với hiện tượng hoại tử xuất huyết thùy thái dương và thùy trán là dấu hiệu thường thấy.

Ngược lại với các bệnh lý ảnh hưởng trực tiếp đến chất xám kể trên thì các bệnh lý gây viêm não cấp lan tỏa hoặc viêm não tủy sau nhiễm trùng sau sởi, Epstein-Barr virus (EBV), và virus vùi hạt cự bào (CMV) thường là do đáp ứng miễn dịch gây nên tổn thương hủy hoại myeline đa ổ chất trắng xung quanh mạch máu

II. TRIỆU CHỨNG BỆNH VIÊM NÃO:

Dấu hiệu trong trường hợp viêm não thể nhẹ gồm:

hay chửi thề

Trong những trường hợp nặng hơn bệnh nhân có thể có sốt cao và kèm theo các tiệu chứng liên quan đến tổn thương hệ thần kinh trung ương bao gồm:

  • Nhức đầu dữ dội
  • Buồn nôn và nôn mửa
  • Cứng cổ
  • Lú lẫn
  • Mất định hướng
  • Thay đổi nhân cách
  • Co giật
  • Rối loạn nghe nói
  • Ảo giác
  • Mất trí nhớ
  • Đờ đẫn
  • Hôn mê

Ở trẻ nhỏ, các dấu hiệu trên không điển hình và khó phát hiện tuy nhiên vẫn có một số dấu hiệu quan trọng giúp định hướng chẩn đoán. Các dấu hiệu này bao gồm:

  • Nôn mửa
  • Thóp phồng (nếu còn thóp)
  • Khóc không thể dỗ nín hoặc khóc tăng lên khi trẻ được bồng lên hoặc làm thay đổi tư thế
  • Gồng cứng người

Vì viêm não có thể xuất hiện sau hoặc đi kèm với các chứng nhiễm virus nên đôi khi có những triệu chứng đặc trưng của các bênh này trước khi có viêm não. Tuy vậy, viêm não thường xuất hiện mà không có triệu chứng báo trước nào cả.

Chẩn đoán

Viêm não là một cấp cứu y khoa, do đó khi có bất cứ triệu chứng nghi ngờ nào như nêu trên thì cũng cần làm các xét nghiệm sau:

  • Chọc dịch não tủy: lấy dịch não tủy để xét nghiệm tế bào-vi trùng, hóa sinh hay virus học.
  • Chẩn đoán hình ảnh: như chụp cắt lớp điện toán (CT scan) hay chụp cộng hưởng từ (MRI) để phát hiện tình trạng phù nề, xuất huyết hay các bất thường khác của não
  • Điện não đồ(EEG): khảo sát hoạt động điện của não nhằm phát hiện các sóng bất thường.
  • Xét nghiệm máu: như công thức máu, xét nghiệm hóa sinh, xét nghiệm huyết thanh học nhằm phát hiện các kháng thể đặc hiệu chống lại bệnh hay phân lập virus.

III. ĐIỀU TRỊ VIÊM NÃO:

Điều trị viêm não cần được thực hiện tại bệnh viện có đủ phương tiện theo dõi cũng như can thiệp kịp thời. Điều trị gồm theo dõi và kiểm soát huyết áp, tần số tim, hô hấp, rối loạn nước-điện giải và nhất là chống phù não.

Ngoại trừ trường hợp viêm não do herpes simplex virus, hấu hết các trường hợp viêm não không cần dùng kháng sinh vì kháng sinh không có tác dụng. Có thể dùng corticosteroid, các dung dịch ưu trương để điều trị phù não. Các thuốc an thần  và chống co giật sử dụng khi có co giật.

Trong trường hợp nặng có rối loạn hô hấp, tuần hoàn, bệnh nhân cần điều trị tích cực như thông khí nhân tạo, chống sốc...

Điều trị phục hồi chức năng cho những bệnh nhân có di chứng.

Tiên lượng

Bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn không di chứng tuy nhiên trong các trường hợp khác như viêm não do herpes simplex virus, viêm não Nhật bản B, viêm não do virus ruột tình trạng tổn thương tế bào não cũng như phù não gây nên các di chứng nặng nề như suy giảm khả năng học tập, mất trí nhớ, mất khả năng kiểm soát vận động cơ, động kinh, thay đổi nhân cách… Trẻ nhỏ dưới một tuổi thường có nguy cơ bệnh nặng hơn và có thể đưa đến bại não. Trường hợp viêm não tổn thương nặng đến thân não, nơi có trung tâm hô hấp, tuần hoàn, điều nhiệt… bệnh nhân dễ tử vong

Phòng bệnh

Viêm não bản thân nó không thể phòng ngừa được ngoại trừ các biện pháp phòng ngừa các bệnh lý có thể dẫn đến viêm não. Các bệnh này thường là những bệnh nhiễm trùng thông thường ở trẻ em như sởi, quai bị và thủy đậu và có thể phòng ngừa hiệu quả bằng tiêm chủng.

Trong những vùng mà viêm não được lây truyền do côn trùng, nhất là muỗi, thì trẻ em nên:

  • Tránh chơi ngoài trời vào lúc bình minh hoặc hoàng hôn (là thời điểm muỗi hoạt động mạnh nhất)
  • Cần mặc áo quần phủ kín tay chân như mang vớ, tất
  • Dùng các chất xua đuổi côn trùng
  • Nằm màn khi ngủ
  • Vệ sinh môi trường: phát quang bụi rậm, thông thoáng cống rãnh, đậy kỹ các vật dụng chứa nước, loại bỏ các dụng cụ thừa có khả năng đọng nước. Mục đích nhằm giảm thiểu nơi cư ngụ cũng như nơi đẻ trứng của muỗi.
Chuyên mục: , , , , , ,

28 thg 12, 2012

Hội chứng tràn khí màng phổi

Chia sẻ bài viết này:

» 360p - Xem nhanh nhất | 720p (HD) - Xem đẹp nhất.

» Xem phim tốt nhất với trình duyệt Firefox

» Chú ý : Nếu không xem được hoặc load chậm Pause 30s hoặc Click Vào đây | Báo Link Phim Hỏng

Video Bài giảng;anc.you/watch?v=b-WPSceDjcI|

Hinh-anh-tran-khi-mang-phoi-tren-phim-xquangI – ĐẠI CƯƠNG

Khi không khí tràn vào ổ màng phổi thì lá thành và lá tạng sẽ tách ra, tạo nên một khoảng chứa khi, gọi là hiện tượng tràn khi màng phổi.

Hiện tượng tràn khí màng phổi thường là bệnh lý, nhưng cũng có trường hợp bơm không khí vào ổ màng phổi để điều trị: phương pháp ép phổi.

Khi có thể tràn vàoổ màng phổi, xâm chiếm toàn bộ ổ màng phổi gọi là tràn khí màng phổi toàn bộ, nếu chỉ xâm chiếm một phần gọi là tràn khí màng phổi cục bộ (loại này thể hiện rất âm thầm).

Lâm sàng và điện quang xoay quanh hai yếu tố: thủng màng phổi và sự có mặt của không khí trong ổ màng phổi.

II. TRIỆU CHỨNG

Chúng tôi lấy hội chứng tràn khí màng phổi toàn bộ làm điển hình.

A – TRIỆU CHỨNG CHỨC NĂNG.

1. Hiện tượng đau chói ở ngực: người bệnh đột nhiên đau chói ở ngực đau như xé phổi, có thể gây sốc, tái xanh người, vã mồ hôi, mạch đập nhanh, huyết áp hạ.

2. Hiện tượng khó thở: xảy ra ngay sau người bệnh đau chói ở ngực khó thở rất nhiều, người bệnh thường ở trong bệnh cảnh sốc.

Những triệu chứng sốc này cũng biến dần đi cùng các triệu chứng chức năng kể trên, đau giảm đi, khu trú ở vùng xương bả hay dưới núm vú.

Còn đối với tràn khí gây ra để điều trị thì triệu chứng chức năng hầu như không đáng kể vì nó không phải do thủng màng phổi và không khí đưa từ ngoài vào chậm với một số lượng đã quy định sẵn, vì vậy không có hội chứng sốc, đau không đáng kể, người bệnh nghỉ ngơi thì không khó thở nữa.

B- TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ

Trong hội chứng tràn khí toàn bộ, triệu chứng thực thể rất phong phú.

1. Nhìn: nửa ngực bị tràn khí thì lồng ngực bất động, khoảng liên sườn giãn ra, ngực bên đó cũng phình ra.

2. Sờ: Rung thanh mất.

3. Gõ: tiếng vang trống, một dấu hiệu điển hìonh của tràn khí màng phổi.

4. Nghe: triệu chứng chủ yếu là mất tiếng rì rào phế nang.

Ba triệu chứng: Rung thanh mất; Rì rào phế nang mất; Tiếng gõ vang trống.

Hợp thành tam chứng Galliard.

Khi nghe, đôi khi ta còn có thể thấy được một tiếng thổi vò. Tiếng vang kim khí, tiếng vang vò của tiếng nói và của tiếng ho. Những triệu chứng này không có thường xuyên và xảy ra muộn so với ba triệu chứng chính kể trên.

Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác: do sự thay đổi vị trí của các cơ quan. Mất tiếng gõ đục vùng gan trong trường hợp tràn khí màng phổi phải, mất tiếng đục vùng tim vì tim bị đẩy sang phải, trong trường hợp tràn khí màng phổi trái.

C- TRIỆU CHỨNG XQUANG

-  Qúa sáng bên có bệnh .

-  Khoảng liên sườn giãn, chiều các xương sườn bé ngang ra.

-  Phổi bị co lại thành một cục xẹp xuống sát rốn phổi.

-  Cơ hoành không di động và bị đẩy xuống, trung thất bị đẩy sang bên lành (Hình 42,43,44)

 

D – TRIỆU CHỨNG ÁP LỰC KẾ

Cần phải biết để phân biệt hội chứng tràn khí màng phổi. Ta thường đo áp lực không khí trong ổ màng phổi bằng máy Kuss, có 3 trường hợp xảy ra:

1. Áp lực tràn khí màng phổi bằng áp lực khí trời: đó là tràn khí mà phổi mở, vẫn còn lỗ thông giữa màng phổi với không khí bên ngoài.

2. Áp lực tràn khí màng phổi thấp hơn áp lực khí trời: đó là tràn khí màng phổi đóng chỗ thủng đã được gắn lại, không khí không vào thêm được nữa. Loại này tiên lượng tốt.

3. Áp lực tràn khí màng phổi cao hơn áp lực khí trời: không khí vào ổ màng phổi được, nhưng không ra được nên thể tích không khí càng ngày càng tăng, làmm cho người bệnh càng khó thở, đó là tràn khí màng phổi có van, loại này rất nặng, thường thì người bệnh chết ngay vì ngạt thở và sốc.

Nếu không có máy Kuss ta có thể dùng ống bơm tiêm:

-  Nếu pittông (Piston) đứng yên: Tràn khí màng phổi mở.

-  Nếu pittông (Piston) bị hút vào: tràn khí màng phổi đóng.

-  Nếu pittông (Piston): tràn khí màng phổi có van.

Nếu hội chứng tràn khí màng phổi thường rõ ràng, để chẩn đoán bằng lâm sàng cũng như chẩn đoán bằng Xquang, thì trái lại, Hội chứng tràn khí màng phổi cục bộ rất kín đáo, ít khi chẩn đoán được bằng lâm sàng vì:

-  Về chức năng: người bệnh không khó thở chỉ hơi đau ngực.

-  Về thực thể: hội chứng tràn khí khu trú ở một vùng nhỏ cho nên rất khó phát hiện.

Chẩn đoán tràn khí màng phổi cục bộ thường là một phát hiện của Xquang: thấy một hình hơi ở ria phổi giữa nhu mô phổi và lồng ngực. Hình ảnh đó cần được phân biệt với một hang phổi bằng cách nhận xét góc của hình hơi đó: góc của tràn khí cục bộ thì nhọn, góc cuảa hang phổi thì tù, ngoài ra khi người bệnh ho, tràn khí cục bộ không nháy, trái lại nếu là hang phổi thì hình đó sẽ nháy.

III – NGUYÊN NHÂN

1. Do lao: phần lớn (60%) tràn khí màng phổi tự phát là do lao. Nó có thể là bệnh cảnh mở đầu một quá trình lao, nhưng thường là biến chứng của một bệnh lao phổi tiến triển.

2. không rõ nguyên nhân: thường xảy ra ở người trẻ, khoẻ mạnh. Tràn khí toàn bộ một bên ổ màng phổi không tiến triển thành một tràn dịch, hay tái phát, người ta cho rằng có thể ;là do kén hơi ở phổi vỡ ra.

3. Các bệnh khác ở phổi, không phải lao: Áp xe phổi vỡ ra ở màng phổi ho gà…

Chuyên mục: , , ,

27 thg 12, 2012

Khí phế thũng

Chia sẻ bài viết này:

Khí phế thũng là một bệnh tiến triển, lâu ngày và là nguyên nhân hàng đầu gây thở hụt hơi (hơi thở ngắn). Ở những bệnh nhân bị khí phế thũng, những nhu mô phổi cần thiết để giữ cho chức năng và hình dạng của phổi được bình thường bị phá hủy. Nó nằm trong một nhóm các bệnh có tên gọi chung là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay COPD (chronic obstructive pulmonary disease). Khí phế thũng được gọi là bệnh phổi tắc nghẽn do sự phá hủy nhu mô phổi xung quanh những đường dẫn khí nhỏ, được gọi là các tiểu phế quản, làm cho chúng không thể giữ được hình dạng bình thường khi bệnh nhân thở ra.

Nhóm bệnh này là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 gây tử vong ở Hoa Kỳ. Không như bệnh tim mạch và những nguyên nhân gây tử vong khác, tỷ lệ tử vong do COPD đang có chiều hướng tăng lên.

Bệnh khí phế thũng thay đổi cấu trúc của phổi theo một số cách quan trọng.

  • Bình thường phổi rất xốp và đàn hồi. Khi hít vào, thành ngực nở ra, làm phổi cũng nở ra. Tương tự như khi một miếng xốp đang bị bóp chặt khi được thả ra sẽ hút nước vào bên trong nó, phổi cũng hút không khí vào bên trong nó khi thành ngực nở ra. Không khí đi vào qua khí quản, các phế quản (hai ống dẫn khí chính đi vào phổi phải và phổi trái). Hai ống này tiếp tục chia ra thành những ống nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa đến đơn vị nhỏ nhất được gọi là phế nang. Phế nang là cấu trúc nhỏ nhất trong phổi, nó là một túi khí được sắp xếp tương tự như một chùm nho. Phế nang nằm ở đầu tận của ống dẫn khí nhỏ nhất có tên là tiểu phế quản. Các phế nang và tiểu phế quản là những cấu trúc rất quan trọng của phổi giúp nó thực hiện tốt chức năng của mình. Đó cũng chính là những cấu trúc bị phá hủy trong bệnh khí phế thũng.
  • Miếng xốp hút nước được là do tất cả những lỗ nhỏ li ti bên trong nó nở ra cùng một lúc sau khi được vắt khô. Nếu những lỗ này lớn hơn, miếng xốp không thể hút nước nhiều được. Đó là do những lỗ lớn không thể tự nở lớn ra bằng với nhiều lỗ nhỏ hơn. Hãy tưởng tượng phổi cũng tương tự như vậy sẽ hiểu được dễ dàng hơn vì sao khí phế thũng lại gây suy giảm chức năng phổi. Phổi cần phải có tính đàn hồi để có thể dãn ra và co lại tốt. Cũng tương tự như miếng xốp, phổi cần rất nhiều phế nang (hàng trăm triệu) để hút đủ khí vào bên trong. Các phế nang càng ít và càng lớn hơn thì hiệu quả sẽ càng kém đi.

NGUYÊN NHÂN

Hút thuốc lá là nguyên nhân nguy hiểm nhất gây khí phế thũng và nó cũng là nguyên nhân có thể phòng ngừa được nhất. Những yếu tố nguy cơ khác bao gồm thiếu một loại enzyme có tên là alpha-1-antitrypsin, ô nhiễm không khí, phản ứng của đường thở, di truyền, là nam giới, và tuổi tác.

  • Tầm quan trọng của việc hút thuốc lá với vai trò là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng không thể được cường điệu hóa. Hút thuốc lá góp phần đẩy nhanh tiến trình bệnh qua 2 cách. Nó phá hủy nhu mô phổi, là nguyên nhân gây tắc nghẽn, và nó gây viêm và kích thích đường dẫn khí có thể làm cho bệnh nặng hơn.
    • Sự phá hủy nhu mô phổi có thể xảy ra theo nhiều cách. Đầu tiên, khói thuốc sẽ tác động trực tiếp lên các tế bào ở đường thở chịu trách nhiệm làm sạch chất nhầy và các chất xuất tiết khác ra khỏi đường thở. Hút thuốc là không thường xuyên sẽ chỉ ngăn chặn tạm thời hoạt động quét của các lông nhỏ li ti của các tế bào này (được gọi là lông chuyển) nằm trên lớp niêm mạc đường thở. Nếu tiếp tục hút sẽ dẫn đến rối loạn chức năng của các lông chuyển. Tiếp xúc với khói thuốc trong thời gian dài sẽ làm các lông chuyển này biến mất khỏi các tế bào bề mặt đường thở. Không được quét bởi các lông chuyển, các chất tiết nhầy không thể bị loại bỏ ra khỏi đường hô hấp dưới. Ngoài ra, khói thuốc còn làm cho dịch nhầy tiết ra nhiều hơn cùng lúc với hiện tượng đường hô hấp bị giảm khả năng làm sạch những chất tiết và kết quả là chất nhầy tích tụ lại tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển dẫn đến nhiễm trùng.
    • Những tế bào miễn dịch của phổi, vốn có chức năng phòng ngừa và chống lại nhiễm trùng, cũng bị ảnh hưởng bởi khói thuốc. Chúng không thể chống lại vi khuẩn một cách hiệu quả nữa, và chúng cũng không loại bỏ được những thành phần chứa trong thuốc lá ra khỏi phổi. Bằng những cách đó, khói thuốc lá tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng xuất hiện thường xuyên. Mặc dù những đợt nhiễm trùng này có thể sẽ không nghiêm trọng đến mức phải nhờ đến sự giúp đỡ của bác sĩ nhưng quá trình viêm gây ra bởi hệ miễn dịch để chống lại vi khuẩn và những thành phần của thuốc lá dẫn đến việc phóng thích những enzyme có tính chất phá hủy từ các tế bào miễn dịch.
    • Theo thời gian, những enzyme được phóng thích trong quá trình viêm kéo dài này làm mất những protein chịu trách nhiệm giữ cho phổi được đàn hồi. Ngoài ra, những mô nằm giữa để chia tách các phế nang riêng với nhau cũng bị phá hủy. Nhiều năm sau đó, nếu vẫn tiếp tục tiếp xúc với khói thuốc thì sự giảm đàn hồi của phổi cùng với sự phá hủy các phế nang sẽ làm chức năng phổi bị hủy hoại từ từ.
  • Alpha-1-antitrypsin là một chất chống lại một loại enzyme phá hủy bên trong phổi có tên là trypsin. Trypsin là một enzyme tiêu hóa, thường thấy trong các ống tiêu hóa được cơ thể sử dụng để tiêu hóa thức ăn. Chúng cũng được các tế bào miễn dịch tiết ra để chống lại vi khuẩn và những chất khác. Những người bị thiếu men alpha-1-antitrypsin sẽ không thể chống lại được tác dụng phá hủy của trypsin một khi nó bị tiết vào phổi. Sự phá hủy mô của trypsin cũng cho những tác động tương tự như sự phá hủy của khói thuốc. Nhu mô phổi sẽ bị phá hủy dần dần dẫn đến giảm khả năng thực hiện những chức năng bình thường của phổi.
  • Không khí ô nhiễm cũng có các tác động tương tự như khói thuốc lá. Chúng gây viêm đường hô hấp dẫn đến phá hủy nhu mô phổi.
  • Những người có họ hàng gần với bệnh nhân bị khí phế thũng cũng có khả năng bị bệnh này, đây được gọi là thể bệnh do di truyền, tuy nhiên vai trò của gen di truyền trong cơ chế phát sinh bệnh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ.
  • Phản ứng bất thường của đường dẫn khí, chẳng hạn như hen phế quản, cũng là yếu tố nguy cơ gây khí phế thũng.
  • Nam giới dễ bị khí phế thũng hơn nữ, tuy nhiên nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết đến, có thể là do sự khác nhau về hormon giữa nam và nữ.
  • Lớn tuổi cũng là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng. Chức năng phổi sẽ suy giảm theo tuổi. Do đó, có thể đây là lý do vì sao những người lớn tuổi, khi mà nhu mô phổi của họ bị phá hủy một lượng vừa đủ để có thể gây ra bệnh khí phế thũng.

TRIỆU CHỨNG

Thở hụt hơi (hơi thở ngắn) là triệu chứng thường gặp nhất của khí phế thũng. Những triệu chứng sau cũng có thể gặp là ho, có thể đôi khi là do dịch nhầy bị tiết ra, và thở khò khè. Bạn sẽ cũng có thể để ý đến khả năng vận động của mình giảm dần theo thời gian. Khí phế thũng thường phát triển từ từ. Bạn có thể sẽ không có những đợt thở hụt hơi cấp tính. Sự hư hỏng sẽ diễn ra từ từ và không làm cho bạn chú ý.

Một trong những triệu chứng đặc hiệu của khí phế thũng là thở chu môi. Bệnh nhân bị khí phể thũng sẽ phải cố gắng hết sức mình để thở ra hoàn toàn do đường dẫn khí đã bị đóng khi thành ngực xẹp xuống trong khi thở ra. Họ sẽ chu môi lại để miệng chỉ còn là một lỗ nhỏ cho phép khí đi ra. Khi đó, lúc thở ra, hai môi sẽ ngăn dòng khí đi ra ngoài làm tăng áp lực bên trong đường thở bị xẹp làm cho chúng nở ra để bệnh nhân có thể thở ra được hoàn toàn.

Bệnh nhân cũng có thể bị lồng ngực hình thùng, đó là khi khoảng cách từ ngực đến lưng, bình thường nhỏ hơn chiều rộng của lồng ngực, trở nên lớn hơn. Đây là hậu quả trực tiếp của việc khí bị giữ lại bên trong đường dẫn khí đã bị tắc nghẽn.

KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH

Khi bạn mới bị thở hụt hơi hoặc khi triệu chứng này tăng lên, hãy đến gặp bác sĩ để được khám bệnh. Triệu chứng này có thể là do những bệnh khác gây ra, đặc biệt là những bệnh của tim mạch hoặc những bệnh khác của phổi, do đó điều quan trọng là không nên bỏ qua hoặc xem nhẹ triệu chứng này. Sự giảm dần khả năng gắng sức, ho dai dẳng, khò khè cũng là những dấu hiệu báo động bạn cần phải đi khám bệnh.

Do khói thuốc là một yếu tố nguy cơ nguy hiểm đối với khí phế thũng nên bạn cũng sẽ cần phải bỏ thuốc dưới sự tư vấn của bác sĩ ngay cả khi không có triệu chứng thở hụt hơi. Các bác sĩ sẽ đề nghị bạn một vài phương pháp bỏ thuốc khác nhau và sự giúp đỡ này sẽ làm cho tiến trình bỏ thuốc dễ dàng hơn là bạn tự làm một mình.

Triệu chứng thở hụt hơi phải luôn được xem là nghiêm trọng, đặc biệt là khi nó xuất hiện bất ngờ hoặc diễn tiến xấu đi trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

  • Nếu bạn biết mình bị khí phế thũng, hãy đến phòng cấp cứu của bệnh viện ngay nếu như triệu chứng thở hụt hơi mới xuất hiện, nặng nề hoặc diễn tiến xấu đi. Mất khả năng nói 1 câu hoàn chỉnh có thể là dấu hiệu của thở hụt hơi.
  • Bất kỳ dấu hiệu gợi ý nào của môi, lưỡi, móng tay, hoặc da chuyển sang màu xanh đều nên đến khoa cấp cứu tại bệnh viện lập tức vì dấu hiệu này, dấu tím tái, có thể là biểu hiện của tình trạng diễn tiến nặng của phổi.
  • Thất bại trong việc cải thiện triệu chứng thở hụt hơi hoặc triệu chứng này trở nên xấu hơn bất kể là đã được dùng thuốc có thể là một biểu hiện cần phải được đưa đi cấp cứu.
  • Đợt ho mới xuất hiện hoặc nặng hơn có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm phổi, và cần phải được đưa đi cấp cứu để đánh giá. Tăng tiết đàm nhớt có thể cũng là dấu hiệu của nhiễm trùng. Nhiễm trùng làm cho khí phế thũng nặng hơn và có thể dẫn đến những vấn đề mạn tính sau này.

KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Khi nghi ngờ bạn bị khí phế thũng dựa vào những lời khai bệnh của bạn, các bác sĩ sẽ thực hiện những thao tác khám bệnh. Bác sĩ sẽ chú ý đặc biệt đến tiếng thở của bạn, tiếng tim và quan sát tổng trạng của bạn. Một số xét nghiệm và các phương tiện cận lâm sàng sẽ được thực hiện tại phòng mạch hoặc trong phòng cấp cứu để xác định mức độ lan rộng của bệnh, chức năng phổi còn lại, và sự hiện diện của nhiễm trùng phổi.

  • X quang phổi giúp các bác sĩ xác định được những thay đổi bên trong phổi có thể gợi ý đến khí phế thũng. X quang phổi cũng có thể cho thấy sự nhiện diện của nhiễm trùng và các khối bất thường bên trong phổi (chẳng hạn như khối u) có thể giải thích được những triệu chứng của bạn. Thở hụt hơi có thể do nhiều nguyên nhân. X quang ngực được hầu hết các bác sĩ xem là phương tiện nhanh nhất và dễ dàng nhất giúp phân biệt được những nguyên nhân khác nhau của triệu chứng này và giúp hình thành chẩn đoán.
  • Đo chức năng phổi cũng cung cấp cho các bác sĩ những thông tin đặc biệt về tình trạng hoạt động cơ năng của phổi. Bệnh nhân sẽ được thở vào bên trong một ống nối với máy vi tính hoặc một số thiết bị theo dõi khác để ghi nhận lại những thông tin cần thiết. Xét nghiệm này có thể xác định được khả năng của phổi có thể chứa được bao nhiêu khí, phổi có thể đẩy không khí ra bên ngoài với tốc độ như thế nào trong khi thở ra, và khả năng đáp ứng của phổi khi được đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chẳng hạn như khi tập thể dục.
  • Nếu bạn có tiền sử gia đình bị thiếu men alpha-1-antitrypsin, các bác sĩ sẽ phải thực hiện xét nghiệm máu để đánh giá.
  • Bạn cũng sẽ được đo công thức máu để kiểm tra số lượng tế bào bạch cầu, đôi khi có thể phản ánh được một tình trạng nhiễm trùng. Thông tin này có thể kết hợp với x quang ngực để đánh giá viêm phổi, viêm phế quản hoặc những nhiễm trùng hô hấp khác có thể làm cho tình trạng khí phế thũng tồi tệ hơn.
  • Một loại xét nghiệm máu khác cũng có thể hữu ích, đặc biệt là khi được nhập viện, đó là xét nghiệm khí máu động mạch. Các bác sĩ sẽ xác định lượng Oxy, Carbon dioxide bên trong máu của bệnh nhân, thông tin này sẽ thể hiện được tình trạng nặng của bệnh.

ĐIỀU TRỊ

Thuốc

Có thể điều trị khí phế thũng theo nhiều cách khác nhau. Thông thường, các bác sĩ sẽ điều trị theo từng bước, tùy thuộc vào độ nặng của bệnh.

  • Ngừng hút thuốc: mặc dù không thật sự nghiêm ngặt nhưng các bác sĩ cũng cho lời khuyên này đối với bệnh nhân bị khí phế thũng (và đối với tất cả mọi người). Bỏ thuốc có thể làm tiến trình của bệnh ngừng lại và có thể cải thiện chức năng của phổi. Bác sĩ sẽ có thể cho thuốc để cai nghiện hoặc cũng có thể dùng các cách thay đổi thói quen khác như dùng nhóm hỗ trợ. Bạn phải cùng hợp tác với bác sĩ để có thể bỏ thuốc thành công và để bắt đầu cải thiện chức năng phổi và chất lượng sống.
  • Thuốc dãn phế quản: đây là những loại thuốc làm cho đường dẫn khí mở ra lớn hơn giúp trao đổi khí tốt hơn, thường là thuốc được lựa chọn đầu tiên đối với các bệnh nhân khí phế thũng. Ở những trường hợp bệnh rất nhẹ, có thể chỉ cần phải dùng khi cần thiết, trong những giai đoạn bị thở hụt hơi.
    • Thuốc dãn phế quản thường gặp nhất đối với trường hợp khí phế thũng nhẹ là albuterol (Proventil hoặc Ventolin). Nó cho tác dụng nhanh và một liều thường kéo dài trong khoảng 4-6 giờ. Albuterol thường gặp nhất dưới dạng bình xịt định liều hoặc MDI (Metered-dose inhaler) và là dạng thường được dùng nhất đối với các trường hợp khí phế thũng nhẹ với những cơn thở hụt hơi xuất hiện gián đoạn. Trong trường hợp này, albuterol được khuyên dùng như là một thuốc giải cứu. Nó dùng để giải cứu bệnh nhân khỏi những cơn thở hụt hơi cấp tính nặng nề.
    • Nếu bạn bị thở hụt hơi ở một mức độ nào đó ngay cả khi nghỉ ngơi, bác sĩ sẽ cho bạn sử dụng albuterol thường xuyên theo lịch dưới dạng MDI hoặc xông khí dung. Xông khí dung là khi bạn được hít thở dung dịch thuốc đã được biến thành hơi nước bằng những dòng khí được thổi liên tục (cũng tương tự như cách các nhà hàng làm ẩm không khí bằng cách cho quạt thổi không khí đi xuyên qua nước). Bạn sẽ được xông khí dung một khi dùng dưới dạng hít qua MDI không còn có tác dụng nữa.
    • Ipratropium bromide (Atrovent) là một loại thuốc dãn phế quản khác được dùng trong những trường hợp khí phế thũng tương đối nhẹ. Tương tự với Albuterol, nó cũng có dưới dạng bình xịt định liều hoặc dung dịch dùng để xông. Tuy nhiên, không giống với albuterol, nó thường được cho theo lịch, do đó nó không được kê toa với mục đích cấp cứu. Atrovent cho tác dụng kéo dài hơn albuterol.
    • Methylxanthine (Theophylline) và những loại thuốc dãn phế quản khác có những tính chất khác nhau có thể hữu ích trong những trường hợp nhất định. Tương đối thông dụng là dạng thuốc viên. Theophylline được dùng qua được miệng. Nó có khả năng duy trì tác dụng làm thông đường thở. Buộc phải theo dõi nồng độ theophylline trong máu. Nếu có quá nhiều theophylline sẽ gây ra hiện tượng quá liều, nếu quá ít, sẽ không đủ khả năng làm giảm triệu chứng thở hụt hơi. Ngoài ra, một số loại thuốc khác cũng có thể tác dụng với theophylline, thay đổi nồng độ máu mà không có dấu hiệu báo động nào. Do đó, ngày nay các bác sĩ rất cẩn thận trong việc sử dụng theophylline. Nếu bạn đang dùng theophylline, hãy tuân thủ đúng theo toa và khám lại với bác sĩ trước khi bắt đầu dùng bất kỳ loại thuốc mới nào.
  • Corticoid: làm giảm viêm cho cơ thể. Do khả năng này mà chúng được dùng trong phổi và các nơi khác, chúng đã được chứng minh rằng có một số lợi ích trong khí phế thũng. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều đáp ứng với corticoid. Corticoid có thể được dùng qua đường uống hoặc hít qua bình xịt định liều hoặc những dạng hít khác.
  • Kháng sinh: thường được kê toa cho những bệnh nhân khí phế thũng bị tăng thở hụt hơi. Ngay cả khi x quang phổi không cho thấy hình ảnh của viêm phổi hoặc bằng chứng nhiễm trùng, bệnh nhân được điều trị với kháng sinh có khuynh hướng giảm dần thời gian của các giai đoạn khó thở. Người ta nghi ngờ rằng nhiễm trùng có thể đóng vai trò trong những cơn khí phế thũng cấp, ngay cả trước khi nhiễm trùng trở thành viêm phổi hoặc viêm phế quản cấp tính.
  • Thở oxy: nếu bạn bị thở hụt hơi và được đưa đến khoa cấp cứu ở bệnh viện, thường bạn sẽ được cho thở oxy. Cũng có thể cần phải cung cấp oxy cho bệnh nhân bằng cách đặt một ống vào bên trong khí quản cho phép một loại máy có thể giúp thở cho bệnh nhân. Ở một số trường hợp, có thể cần phải thở oxy tại nhà. Có những bình oxygen tại nhà có thể mang đi được và thuận tiện cho những khi thực hiện các công việc thường ngày.

Phẫu thuật

Phẫu thuật có thể thực hiện ở một số bệnh nhân bị khí phế thũng tiến triển.

  • Đầu tiên là phẫu thuật cắt phổi. Mặc dù có thể nó không cho ấn tượng rằng giảm thể tích của phổi sẽ giúp cải thiện triệu chứng thở hụt hơi, điều quan trọng cần nhớ là khí phế thũng gây ra sự giãn nở bất thường của thành ngực, có thể làm giảm hiệu năng hô hấp. Bằng cách lấy đi một số vùng phổi thừa hoặc bị chết, phương pháp này có thể cải thiện khả năng hô hấp và chất lượng sống ở một số người.
  • Đối với những người bị khí phế thũng tiển triển nặng nhất, việc ghép 1 hay cả 2 phổi có thể là cách điều trị tức thời. Ghép phổi sẽ đưa đến một số nguy cơ cũng như thuận lợi khác. Những người được ghép phổi sẽ phải dùng thuốc để ngăn sự đào thải của cơ thể đối với mô ghép. Ngoài ra, không phải tất cả mọi người đều có đủ khả năng ghép, và những người đủ khả năng cũng chưa chắc được ghép bởi số phổi hiến có giới hạn.

NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Theo dõi

Nếu bạn bị khí phế thũng thì việc theo dõi sát là rất quan trọng để kiểm soát bệnh. Bạn cần phải cộng tác tốt với bác sĩ để có thể kiểm soát được sức khỏe của mình.

Phòng ngừa

Phòng ngừa khí phế thũng liên hệ mật thiết với việc phòng tránh khói thuốc. Yếu tố nguy cơ duy nhất của bệnh này mà bạn có thể kiểm soát được là khói thuốc lá. Những người hút thuốc thường xuyên đã đặt chính bản thân và sức khỏe của họ vào sự gia tăng nguy cơ theo mỗi gói thuốc lá và mỗi năm họ tiếp tục hút.

Cơn bùng phát của khí phế thũng có thể được phòng ngừa bằng cách dùng thuốc đã được kê toa và đi khám bệnh khi gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của nhiễm trùng đường hô hấp hoặc thở hụt hơi. Ngoài ra, nếu bạn bị khí phế thũng, bạn nên theo đúng lịch tiêm vaccin để phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp. Điều quan trọng là nên tiêm vaccine pneumococcal mỗi 5 năm và vaccine virus influenza hằng năm, trước khi mùa cúm diễn ra.

Tiên lượng

Khí phế thũng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 ở Hoa Kỳ. Nó là một bệnh mạn tính, tiến triển ảnh hưởng đến chất lượng sống trong ít nhất là toàn bộ quãng đời còn lại.

Tương tự như với nhiều bệnh mạn tính khác, tiên lượng của bệnh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Không có cách điều trị dứt điểm nhưng có những phương pháp hiệu quả để làm chậm lại tiến trình của bệnh để cho người bệnh một cuộc sống bình thường.

Tóm lại, khí phế thũng là một loại bệnh đòi hỏi bạn phải đóng vai trò chủ động trong việc kiểm soát bệnh của mình. Bước đầu tiên là bỏ thuốc lá. Thường xuyên đến khám bệnh và uống thuốc theo toa là rất quan trọng.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Chuyên mục: , , ,

Khí phế thũng

Chia sẻ bài viết này:

Khí phế thũng là một bệnh tiến triển, lâu ngày và là nguyên nhân hàng đầu gây thở hụt hơi (hơi thở ngắn). Ở những bệnh nhân bị khí phế thũng, những nhu mô phổi cần thiết để giữ cho chức năng và hình dạng của phổi được bình thường bị phá hủy. Nó nằm trong một nhóm các bệnh có tên gọi chung là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay COPD (chronic obstructive pulmonary disease). Khí phế thũng được gọi là bệnh phổi tắc nghẽn do sự phá hủy nhu mô phổi xung quanh những đường dẫn khí nhỏ, được gọi là các tiểu phế quản, làm cho chúng không thể giữ được hình dạng bình thường khi bệnh nhân thở ra.

Nhóm bệnh này là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 gây tử vong ở Hoa Kỳ. Không như bệnh tim mạch và những nguyên nhân gây tử vong khác, tỷ lệ tử vong do COPD đang có chiều hướng tăng lên.

Bệnh khí phế thũng thay đổi cấu trúc của phổi theo một số cách quan trọng.

  • Bình thường phổi rất xốp và đàn hồi. Khi hít vào, thành ngực nở ra, làm phổi cũng nở ra. Tương tự như khi một miếng xốp đang bị bóp chặt khi được thả ra sẽ hút nước vào bên trong nó, phổi cũng hút không khí vào bên trong nó khi thành ngực nở ra. Không khí đi vào qua khí quản, các phế quản (hai ống dẫn khí chính đi vào phổi phải và phổi trái). Hai ống này tiếp tục chia ra thành những ống nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa đến đơn vị nhỏ nhất được gọi là phế nang. Phế nang là cấu trúc nhỏ nhất trong phổi, nó là một túi khí được sắp xếp tương tự như một chùm nho. Phế nang nằm ở đầu tận của ống dẫn khí nhỏ nhất có tên là tiểu phế quản. Các phế nang và tiểu phế quản là những cấu trúc rất quan trọng của phổi giúp nó thực hiện tốt chức năng của mình. Đó cũng chính là những cấu trúc bị phá hủy trong bệnh khí phế thũng.
  • Miếng xốp hút nước được là do tất cả những lỗ nhỏ li ti bên trong nó nở ra cùng một lúc sau khi được vắt khô. Nếu những lỗ này lớn hơn, miếng xốp không thể hút nước nhiều được. Đó là do những lỗ lớn không thể tự nở lớn ra bằng với nhiều lỗ nhỏ hơn. Hãy tưởng tượng phổi cũng tương tự như vậy sẽ hiểu được dễ dàng hơn vì sao khí phế thũng lại gây suy giảm chức năng phổi. Phổi cần phải có tính đàn hồi để có thể dãn ra và co lại tốt. Cũng tương tự như miếng xốp, phổi cần rất nhiều phế nang (hàng trăm triệu) để hút đủ khí vào bên trong. Các phế nang càng ít và càng lớn hơn thì hiệu quả sẽ càng kém đi.

NGUYÊN NHÂN

Hút thuốc lá là nguyên nhân nguy hiểm nhất gây khí phế thũng và nó cũng là nguyên nhân có thể phòng ngừa được nhất. Những yếu tố nguy cơ khác bao gồm thiếu một loại enzyme có tên là alpha-1-antitrypsin, ô nhiễm không khí, phản ứng của đường thở, di truyền, là nam giới, và tuổi tác.

  • Tầm quan trọng của việc hút thuốc lá với vai trò là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng không thể được cường điệu hóa. Hút thuốc lá góp phần đẩy nhanh tiến trình bệnh qua 2 cách. Nó phá hủy nhu mô phổi, là nguyên nhân gây tắc nghẽn, và nó gây viêm và kích thích đường dẫn khí có thể làm cho bệnh nặng hơn.
    • Sự phá hủy nhu mô phổi có thể xảy ra theo nhiều cách. Đầu tiên, khói thuốc sẽ tác động trực tiếp lên các tế bào ở đường thở chịu trách nhiệm làm sạch chất nhầy và các chất xuất tiết khác ra khỏi đường thở. Hút thuốc là không thường xuyên sẽ chỉ ngăn chặn tạm thời hoạt động quét của các lông nhỏ li ti của các tế bào này (được gọi là lông chuyển) nằm trên lớp niêm mạc đường thở. Nếu tiếp tục hút sẽ dẫn đến rối loạn chức năng của các lông chuyển. Tiếp xúc với khói thuốc trong thời gian dài sẽ làm các lông chuyển này biến mất khỏi các tế bào bề mặt đường thở. Không được quét bởi các lông chuyển, các chất tiết nhầy không thể bị loại bỏ ra khỏi đường hô hấp dưới. Ngoài ra, khói thuốc còn làm cho dịch nhầy tiết ra nhiều hơn cùng lúc với hiện tượng đường hô hấp bị giảm khả năng làm sạch những chất tiết và kết quả là chất nhầy tích tụ lại tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển dẫn đến nhiễm trùng.
    • Những tế bào miễn dịch của phổi, vốn có chức năng phòng ngừa và chống lại nhiễm trùng, cũng bị ảnh hưởng bởi khói thuốc. Chúng không thể chống lại vi khuẩn một cách hiệu quả nữa, và chúng cũng không loại bỏ được những thành phần chứa trong thuốc lá ra khỏi phổi. Bằng những cách đó, khói thuốc lá tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng xuất hiện thường xuyên. Mặc dù những đợt nhiễm trùng này có thể sẽ không nghiêm trọng đến mức phải nhờ đến sự giúp đỡ của bác sĩ nhưng quá trình viêm gây ra bởi hệ miễn dịch để chống lại vi khuẩn và những thành phần của thuốc lá dẫn đến việc phóng thích những enzyme có tính chất phá hủy từ các tế bào miễn dịch.
    • Theo thời gian, những enzyme được phóng thích trong quá trình viêm kéo dài này làm mất những protein chịu trách nhiệm giữ cho phổi được đàn hồi. Ngoài ra, những mô nằm giữa để chia tách các phế nang riêng với nhau cũng bị phá hủy. Nhiều năm sau đó, nếu vẫn tiếp tục tiếp xúc với khói thuốc thì sự giảm đàn hồi của phổi cùng với sự phá hủy các phế nang sẽ làm chức năng phổi bị hủy hoại từ từ.
  • Alpha-1-antitrypsin là một chất chống lại một loại enzyme phá hủy bên trong phổi có tên là trypsin. Trypsin là một enzyme tiêu hóa, thường thấy trong các ống tiêu hóa được cơ thể sử dụng để tiêu hóa thức ăn. Chúng cũng được các tế bào miễn dịch tiết ra để chống lại vi khuẩn và những chất khác. Những người bị thiếu men alpha-1-antitrypsin sẽ không thể chống lại được tác dụng phá hủy của trypsin một khi nó bị tiết vào phổi. Sự phá hủy mô của trypsin cũng cho những tác động tương tự như sự phá hủy của khói thuốc. Nhu mô phổi sẽ bị phá hủy dần dần dẫn đến giảm khả năng thực hiện những chức năng bình thường của phổi.
  • Không khí ô nhiễm cũng có các tác động tương tự như khói thuốc lá. Chúng gây viêm đường hô hấp dẫn đến phá hủy nhu mô phổi.
  • Những người có họ hàng gần với bệnh nhân bị khí phế thũng cũng có khả năng bị bệnh này, đây được gọi là thể bệnh do di truyền, tuy nhiên vai trò của gen di truyền trong cơ chế phát sinh bệnh cho đến nay vẫn chưa được biết rõ.
  • Phản ứng bất thường của đường dẫn khí, chẳng hạn như hen phế quản, cũng là yếu tố nguy cơ gây khí phế thũng.
  • Nam giới dễ bị khí phế thũng hơn nữ, tuy nhiên nguyên nhân chính xác vẫn chưa được biết đến, có thể là do sự khác nhau về hormon giữa nam và nữ.
  • Lớn tuổi cũng là yếu tố nguy cơ của khí phế thũng. Chức năng phổi sẽ suy giảm theo tuổi. Do đó, có thể đây là lý do vì sao những người lớn tuổi, khi mà nhu mô phổi của họ bị phá hủy một lượng vừa đủ để có thể gây ra bệnh khí phế thũng.

TRIỆU CHỨNG

Thở hụt hơi (hơi thở ngắn) là triệu chứng thường gặp nhất của khí phế thũng. Những triệu chứng sau cũng có thể gặp là ho, có thể đôi khi là do dịch nhầy bị tiết ra, và thở khò khè. Bạn sẽ cũng có thể để ý đến khả năng vận động của mình giảm dần theo thời gian. Khí phế thũng thường phát triển từ từ. Bạn có thể sẽ không có những đợt thở hụt hơi cấp tính. Sự hư hỏng sẽ diễn ra từ từ và không làm cho bạn chú ý.

Một trong những triệu chứng đặc hiệu của khí phế thũng là thở chu môi. Bệnh nhân bị khí phể thũng sẽ phải cố gắng hết sức mình để thở ra hoàn toàn do đường dẫn khí đã bị đóng khi thành ngực xẹp xuống trong khi thở ra. Họ sẽ chu môi lại để miệng chỉ còn là một lỗ nhỏ cho phép khí đi ra. Khi đó, lúc thở ra, hai môi sẽ ngăn dòng khí đi ra ngoài làm tăng áp lực bên trong đường thở bị xẹp làm cho chúng nở ra để bệnh nhân có thể thở ra được hoàn toàn.

Bệnh nhân cũng có thể bị lồng ngực hình thùng, đó là khi khoảng cách từ ngực đến lưng, bình thường nhỏ hơn chiều rộng của lồng ngực, trở nên lớn hơn. Đây là hậu quả trực tiếp của việc khí bị giữ lại bên trong đường dẫn khí đã bị tắc nghẽn.

KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH

Khi bạn mới bị thở hụt hơi hoặc khi triệu chứng này tăng lên, hãy đến gặp bác sĩ để được khám bệnh. Triệu chứng này có thể là do những bệnh khác gây ra, đặc biệt là những bệnh của tim mạch hoặc những bệnh khác của phổi, do đó điều quan trọng là không nên bỏ qua hoặc xem nhẹ triệu chứng này. Sự giảm dần khả năng gắng sức, ho dai dẳng, khò khè cũng là những dấu hiệu báo động bạn cần phải đi khám bệnh.

Do khói thuốc là một yếu tố nguy cơ nguy hiểm đối với khí phế thũng nên bạn cũng sẽ cần phải bỏ thuốc dưới sự tư vấn của bác sĩ ngay cả khi không có triệu chứng thở hụt hơi. Các bác sĩ sẽ đề nghị bạn một vài phương pháp bỏ thuốc khác nhau và sự giúp đỡ này sẽ làm cho tiến trình bỏ thuốc dễ dàng hơn là bạn tự làm một mình.

Triệu chứng thở hụt hơi phải luôn được xem là nghiêm trọng, đặc biệt là khi nó xuất hiện bất ngờ hoặc diễn tiến xấu đi trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

  • Nếu bạn biết mình bị khí phế thũng, hãy đến phòng cấp cứu của bệnh viện ngay nếu như triệu chứng thở hụt hơi mới xuất hiện, nặng nề hoặc diễn tiến xấu đi. Mất khả năng nói 1 câu hoàn chỉnh có thể là dấu hiệu của thở hụt hơi.
  • Bất kỳ dấu hiệu gợi ý nào của môi, lưỡi, móng tay, hoặc da chuyển sang màu xanh đều nên đến khoa cấp cứu tại bệnh viện lập tức vì dấu hiệu này, dấu tím tái, có thể là biểu hiện của tình trạng diễn tiến nặng của phổi.
  • Thất bại trong việc cải thiện triệu chứng thở hụt hơi hoặc triệu chứng này trở nên xấu hơn bất kể là đã được dùng thuốc có thể là một biểu hiện cần phải được đưa đi cấp cứu.
  • Đợt ho mới xuất hiện hoặc nặng hơn có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm phổi, và cần phải được đưa đi cấp cứu để đánh giá. Tăng tiết đàm nhớt có thể cũng là dấu hiệu của nhiễm trùng. Nhiễm trùng làm cho khí phế thũng nặng hơn và có thể dẫn đến những vấn đề mạn tính sau này.

KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM

Khi nghi ngờ bạn bị khí phế thũng dựa vào những lời khai bệnh của bạn, các bác sĩ sẽ thực hiện những thao tác khám bệnh. Bác sĩ sẽ chú ý đặc biệt đến tiếng thở của bạn, tiếng tim và quan sát tổng trạng của bạn. Một số xét nghiệm và các phương tiện cận lâm sàng sẽ được thực hiện tại phòng mạch hoặc trong phòng cấp cứu để xác định mức độ lan rộng của bệnh, chức năng phổi còn lại, và sự hiện diện của nhiễm trùng phổi.

  • X quang phổi giúp các bác sĩ xác định được những thay đổi bên trong phổi có thể gợi ý đến khí phế thũng. X quang phổi cũng có thể cho thấy sự nhiện diện của nhiễm trùng và các khối bất thường bên trong phổi (chẳng hạn như khối u) có thể giải thích được những triệu chứng của bạn. Thở hụt hơi có thể do nhiều nguyên nhân. X quang ngực được hầu hết các bác sĩ xem là phương tiện nhanh nhất và dễ dàng nhất giúp phân biệt được những nguyên nhân khác nhau của triệu chứng này và giúp hình thành chẩn đoán.
  • Đo chức năng phổi cũng cung cấp cho các bác sĩ những thông tin đặc biệt về tình trạng hoạt động cơ năng của phổi. Bệnh nhân sẽ được thở vào bên trong một ống nối với máy vi tính hoặc một số thiết bị theo dõi khác để ghi nhận lại những thông tin cần thiết. Xét nghiệm này có thể xác định được khả năng của phổi có thể chứa được bao nhiêu khí, phổi có thể đẩy không khí ra bên ngoài với tốc độ như thế nào trong khi thở ra, và khả năng đáp ứng của phổi khi được đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chẳng hạn như khi tập thể dục.
  • Nếu bạn có tiền sử gia đình bị thiếu men alpha-1-antitrypsin, các bác sĩ sẽ phải thực hiện xét nghiệm máu để đánh giá.
  • Bạn cũng sẽ được đo công thức máu để kiểm tra số lượng tế bào bạch cầu, đôi khi có thể phản ánh được một tình trạng nhiễm trùng. Thông tin này có thể kết hợp với x quang ngực để đánh giá viêm phổi, viêm phế quản hoặc những nhiễm trùng hô hấp khác có thể làm cho tình trạng khí phế thũng tồi tệ hơn.
  • Một loại xét nghiệm máu khác cũng có thể hữu ích, đặc biệt là khi được nhập viện, đó là xét nghiệm khí máu động mạch. Các bác sĩ sẽ xác định lượng Oxy, Carbon dioxide bên trong máu của bệnh nhân, thông tin này sẽ thể hiện được tình trạng nặng của bệnh.

ĐIỀU TRỊ

Thuốc

Có thể điều trị khí phế thũng theo nhiều cách khác nhau. Thông thường, các bác sĩ sẽ điều trị theo từng bước, tùy thuộc vào độ nặng của bệnh.

  • Ngừng hút thuốc: mặc dù không thật sự nghiêm ngặt nhưng các bác sĩ cũng cho lời khuyên này đối với bệnh nhân bị khí phế thũng (và đối với tất cả mọi người). Bỏ thuốc có thể làm tiến trình của bệnh ngừng lại và có thể cải thiện chức năng của phổi. Bác sĩ sẽ có thể cho thuốc để cai nghiện hoặc cũng có thể dùng các cách thay đổi thói quen khác như dùng nhóm hỗ trợ. Bạn phải cùng hợp tác với bác sĩ để có thể bỏ thuốc thành công và để bắt đầu cải thiện chức năng phổi và chất lượng sống.
  • Thuốc dãn phế quản: đây là những loại thuốc làm cho đường dẫn khí mở ra lớn hơn giúp trao đổi khí tốt hơn, thường là thuốc được lựa chọn đầu tiên đối với các bệnh nhân khí phế thũng. Ở những trường hợp bệnh rất nhẹ, có thể chỉ cần phải dùng khi cần thiết, trong những giai đoạn bị thở hụt hơi.
    • Thuốc dãn phế quản thường gặp nhất đối với trường hợp khí phế thũng nhẹ là albuterol (Proventil hoặc Ventolin). Nó cho tác dụng nhanh và một liều thường kéo dài trong khoảng 4-6 giờ. Albuterol thường gặp nhất dưới dạng bình xịt định liều hoặc MDI (Metered-dose inhaler) và là dạng thường được dùng nhất đối với các trường hợp khí phế thũng nhẹ với những cơn thở hụt hơi xuất hiện gián đoạn. Trong trường hợp này, albuterol được khuyên dùng như là một thuốc giải cứu. Nó dùng để giải cứu bệnh nhân khỏi những cơn thở hụt hơi cấp tính nặng nề.
    • Nếu bạn bị thở hụt hơi ở một mức độ nào đó ngay cả khi nghỉ ngơi, bác sĩ sẽ cho bạn sử dụng albuterol thường xuyên theo lịch dưới dạng MDI hoặc xông khí dung. Xông khí dung là khi bạn được hít thở dung dịch thuốc đã được biến thành hơi nước bằng những dòng khí được thổi liên tục (cũng tương tự như cách các nhà hàng làm ẩm không khí bằng cách cho quạt thổi không khí đi xuyên qua nước). Bạn sẽ được xông khí dung một khi dùng dưới dạng hít qua MDI không còn có tác dụng nữa.
    • Ipratropium bromide (Atrovent) là một loại thuốc dãn phế quản khác được dùng trong những trường hợp khí phế thũng tương đối nhẹ. Tương tự với Albuterol, nó cũng có dưới dạng bình xịt định liều hoặc dung dịch dùng để xông. Tuy nhiên, không giống với albuterol, nó thường được cho theo lịch, do đó nó không được kê toa với mục đích cấp cứu. Atrovent cho tác dụng kéo dài hơn albuterol.
    • Methylxanthine (Theophylline) và những loại thuốc dãn phế quản khác có những tính chất khác nhau có thể hữu ích trong những trường hợp nhất định. Tương đối thông dụng là dạng thuốc viên. Theophylline được dùng qua được miệng. Nó có khả năng duy trì tác dụng làm thông đường thở. Buộc phải theo dõi nồng độ theophylline trong máu. Nếu có quá nhiều theophylline sẽ gây ra hiện tượng quá liều, nếu quá ít, sẽ không đủ khả năng làm giảm triệu chứng thở hụt hơi. Ngoài ra, một số loại thuốc khác cũng có thể tác dụng với theophylline, thay đổi nồng độ máu mà không có dấu hiệu báo động nào. Do đó, ngày nay các bác sĩ rất cẩn thận trong việc sử dụng theophylline. Nếu bạn đang dùng theophylline, hãy tuân thủ đúng theo toa và khám lại với bác sĩ trước khi bắt đầu dùng bất kỳ loại thuốc mới nào.
  • Corticoid: làm giảm viêm cho cơ thể. Do khả năng này mà chúng được dùng trong phổi và các nơi khác, chúng đã được chứng minh rằng có một số lợi ích trong khí phế thũng. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều đáp ứng với corticoid. Corticoid có thể được dùng qua đường uống hoặc hít qua bình xịt định liều hoặc những dạng hít khác.
  • Kháng sinh: thường được kê toa cho những bệnh nhân khí phế thũng bị tăng thở hụt hơi. Ngay cả khi x quang phổi không cho thấy hình ảnh của viêm phổi hoặc bằng chứng nhiễm trùng, bệnh nhân được điều trị với kháng sinh có khuynh hướng giảm dần thời gian của các giai đoạn khó thở. Người ta nghi ngờ rằng nhiễm trùng có thể đóng vai trò trong những cơn khí phế thũng cấp, ngay cả trước khi nhiễm trùng trở thành viêm phổi hoặc viêm phế quản cấp tính.
  • Thở oxy: nếu bạn bị thở hụt hơi và được đưa đến khoa cấp cứu ở bệnh viện, thường bạn sẽ được cho thở oxy. Cũng có thể cần phải cung cấp oxy cho bệnh nhân bằng cách đặt một ống vào bên trong khí quản cho phép một loại máy có thể giúp thở cho bệnh nhân. Ở một số trường hợp, có thể cần phải thở oxy tại nhà. Có những bình oxygen tại nhà có thể mang đi được và thuận tiện cho những khi thực hiện các công việc thường ngày.

Phẫu thuật

Phẫu thuật có thể thực hiện ở một số bệnh nhân bị khí phế thũng tiến triển.

  • Đầu tiên là phẫu thuật cắt phổi. Mặc dù có thể nó không cho ấn tượng rằng giảm thể tích của phổi sẽ giúp cải thiện triệu chứng thở hụt hơi, điều quan trọng cần nhớ là khí phế thũng gây ra sự giãn nở bất thường của thành ngực, có thể làm giảm hiệu năng hô hấp. Bằng cách lấy đi một số vùng phổi thừa hoặc bị chết, phương pháp này có thể cải thiện khả năng hô hấp và chất lượng sống ở một số người.
  • Đối với những người bị khí phế thũng tiển triển nặng nhất, việc ghép 1 hay cả 2 phổi có thể là cách điều trị tức thời. Ghép phổi sẽ đưa đến một số nguy cơ cũng như thuận lợi khác. Những người được ghép phổi sẽ phải dùng thuốc để ngăn sự đào thải của cơ thể đối với mô ghép. Ngoài ra, không phải tất cả mọi người đều có đủ khả năng ghép, và những người đủ khả năng cũng chưa chắc được ghép bởi số phổi hiến có giới hạn.

NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO

Theo dõi

Nếu bạn bị khí phế thũng thì việc theo dõi sát là rất quan trọng để kiểm soát bệnh. Bạn cần phải cộng tác tốt với bác sĩ để có thể kiểm soát được sức khỏe của mình.

Phòng ngừa

Phòng ngừa khí phế thũng liên hệ mật thiết với việc phòng tránh khói thuốc. Yếu tố nguy cơ duy nhất của bệnh này mà bạn có thể kiểm soát được là khói thuốc lá. Những người hút thuốc thường xuyên đã đặt chính bản thân và sức khỏe của họ vào sự gia tăng nguy cơ theo mỗi gói thuốc lá và mỗi năm họ tiếp tục hút.

Cơn bùng phát của khí phế thũng có thể được phòng ngừa bằng cách dùng thuốc đã được kê toa và đi khám bệnh khi gặp bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của nhiễm trùng đường hô hấp hoặc thở hụt hơi. Ngoài ra, nếu bạn bị khí phế thũng, bạn nên theo đúng lịch tiêm vaccin để phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp. Điều quan trọng là nên tiêm vaccine pneumococcal mỗi 5 năm và vaccine virus influenza hằng năm, trước khi mùa cúm diễn ra.

Tiên lượng

Khí phế thũng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 ở Hoa Kỳ. Nó là một bệnh mạn tính, tiến triển ảnh hưởng đến chất lượng sống trong ít nhất là toàn bộ quãng đời còn lại.

Tương tự như với nhiều bệnh mạn tính khác, tiên lượng của bệnh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Không có cách điều trị dứt điểm nhưng có những phương pháp hiệu quả để làm chậm lại tiến trình của bệnh để cho người bệnh một cuộc sống bình thường.

Tóm lại, khí phế thũng là một loại bệnh đòi hỏi bạn phải đóng vai trò chủ động trong việc kiểm soát bệnh của mình. Bước đầu tiên là bỏ thuốc lá. Thường xuyên đến khám bệnh và uống thuốc theo toa là rất quan trọng.

Theo emedicinehealth - Y học NET dịch

Chuyên mục: , , ,